LỢI ÍCH CỦA NHIÊN LIỆU SINH HỌC

Lượt xem: 203

Ngày đăng: 03/10/2019

Trên thế giới nhiều năm qua vẫn phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch. Theo đó, dầu mỏ, than đá, khí đốt cung cấp đến 80% nhu cầu năng lượng toàn cầu. Tuy nhiên, nguồn nhiên liệu hóa thạch ngày càng cạn kiệt và việc sử dụng nguồn nhiên liệu này gây ra nhiều hậu quả tai hại về môi trường sống.

Nhu cầu bức thiết về năng lượng chính là nguyên nhân dẫn đến tăng phát thải, vượt quá cả tốc độ loại bỏ carbon của hệ thống năng lượng. 

Ngân hàng Thế giới (WB) ước tính nếu lượng khí phát thải trên toàn cầu mỗi năm được sử dụng để phát điện, có thể đáp ứng tất cả các nhu cầu về điện ở Châu Phi. Thời báo tài chính (Financial Times) cho biết việc phát thải khí ở bang Texas đang "thắp sáng bầu trời đêm" khi các nhà sản xuất xả khí thải để đưa dầu ra thị trường nhanh chóng, bất chấp hậu quả môi trường.

Etanol (cồn) và biodiesel (diesel sinh học) là hai loại NLSH đang được sử dụng phổ biến hiện nay. Các loại NLSH khác tồn tại chỉ ở mức độ giới hạn do tính kinh tế và kỹ thuật chưa cao. Các nguyên liệu dùng để sản xuất ethanol bao gồm mía, ngô, sắn,... và các nguồn vật liệu cellulose như rơm rạ, bã mía, vỏ trấu,... Biodiesel là hỗn hợp các ester của acid béo, được sản xuất từ quá trình chuyển ester hóa giữa các triglyceride, là thành phần chính có trong dầu thực vật và mỡ động vật, và methanol với xúc tác acid hoặc bazơ.

Mặc dù vẫn còn những bàn cãi về các mặt hạn chế của NLSH nhưng các lợi ích đem lại từ NLSH đã được chứng minh. NLSH được xem là bước chuyển tiếp trung gian từ nền nhiên liệu hóa thạch hiện nay sang nền nhiên liệu hydro trong tương lai. Hiện nay, trên khắp thế giới, các chính sách và chiến lược phát triển NLSH của nhiều quốc gia đang được thực thi ở những mức độ và quy mô khác nhau.

Sử dụng nhiên liệu sinh học mang lại lợi ích vượt trội trong:

1 - Giảm thiểu ô nhiễm và khí CO2 gây hiệu ứng nhà kính: Trong quá trình phát triển của các loại thực vật, chúng hấp thụ CO2 từ môi trường thông qua quá trình quang hợp. Một lượng CO2 tương đương được giải phóng khi thực vật bị phân hủy tự nhiên hoặc đốt cháy. Ðiều đó có nghĩa là NLSH có nguồn gốc từ thực vật không đóng góp vào quá trình phát thải CO2 - khí nhà kính. Hơn nữa, sự cân bằng trong phát thải CO2 đối với NLSH còn thể hiện qua chu trình khép kín: NLSH sau khi sử dụng sẽ thải khí CO2, cây trồng hấp thụ khí CO2 cùng với năng lượng mặt trời lại phát triển, tạo ra nguồn nguyên liệu cho sản xuất NLSH.

3 - Phát triển kinh tế nông nghiệp: Thông qua nguyên liệu đầu vào của các nhà máy là sản phẩm nông nghiệp, do đó NLSH có thể kích thích sản xuất nông nghiệp và mở rộng thị trường cho sản phẩm nông nghiệp trong nước. Việc sản xuất NLSH từ một số cây trồng như mía, ngô và sắn (cho ethanol) và dừa, đậu phộng, jatropha (cho biodiesel) mở ra cơ hội thị trường sản phẩm mới cho nông dân với tiềm năng tăng thu nhập hoặc tăng năng lực sản xuất của đất canh tác hiện có, tận dụng các vùng đất hoang hóa và tạo thêm công ăn việc làm cho người dân.

4 - Bảo đảm an ninh năng lượng: Phát triển nhiên liệu sinh học giúp các quốc gia chủ động, không bị lệ thuộc vào vấn đề nhập khẩu nhiên liệu, đặc biệt với những quốc gia không có nguồn dầu mỏ và than đá. Đồng thời, kiềm chế sự gia tăng giá dầu, ổn định tinh hình năng lượng cho thế giới. Việc phát triển nhiên liệu sinh học trên cơ sở tận dụng các nguồn nguyên liệu sinh khối khổng lồ và được sản xuất từ nguồn nguyên liệu có thể tái tạo được sẽ thật sự là một lựa chọn ưu tiên trong việc đảm bảo về vấn đề an ninh năng lượng cho các quốc gia.

Nhận thấy tầm quan trọng của việc phát triển nguồn NLSH, ngày 20-11-2007, Chính phủ nước ta đã phê duyệt "Ðề án phát triển NLSH đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2025" với mục tiêu chủ yếu phát triển NLSH để thay thế một phần nhiên liệu hóa thạch truyền thống, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng và bảo vệ môi trường.

 

(Sưu tầm)

Đặng Thu Thuỷ

 

CÁC BÀI VIẾT CÙNG CHUYÊN MỤC