BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ẢNH HƯỞNG SÂU SẮC ĐẾN PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY

Lượt xem: 1313

Ngày đăng: 04/12/2019

1. Đặt vấn đề [1][2]

Trong những năm gần đây, biến đổi khí hậu cùng với những tác động của nó đối với môi trường tự nhiên và con người đã được đề cập khá nhiều. Thực tế, biến đổi khí hậu (BĐKH) đã tác động ngày càng rõ rệt, làm thay đổi hình thái thời tiết trên toàn thế giới. Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa đã làm gia tăng lượng khí thải nhà kính vào bầu khí quyển. Hệ quả là khí hậu bị biến đổi, nhiệt độ bề mặt Trái đất tăng lên, nước biển dâng, kéo theo các sự kiện thời tiết cực đoan. Các nhà khoa học cũng phỏng đoán rằng nhiệt độ trên trái đất sẽ tăng thêm 30C đến 40C trong bốn mươi năm nữa. Những thay đổi ấy dẫn đến các hiện tượng bất thường của thời tiết xuất hiện khắp nơi trên thế giới: bão, lũ cường độ lớn, kéo dài và không theo quy luật; hạn hán xuất hiện liên tục gây thiếu nước trầm trọng; nóng bất thường vào mùa hạ và rét đậm vào mùa đông; động đất, sóng thần...

Hình 1. Tỉ lệ khí nhà kính tại Việt Nam và các nước trong khu vực

 

Việt Nam được cảnh báo thuộc nhóm 5 nước trên thế giới bị tác động nặng nề nhất của BĐKH. Trong 5 nước này, Việt Nam nằm trong số hai nước có nguy cơ nhất cùng với Bangladesh.

Thực tế trong 50 năm gần đây nhiệt độ trung bình ở Việt Nam tăng khoảng 0,7 0C, mực nước biển dâng cao khoảng 20 cm. Ngay tại Hà Nội, mùa hè năm 2017, nhiệt độ đã đạt mức cao kỷ lục trong vòng hơn 40 năm qua. Thiên tai và các hiện tượng biến đổi khí hậu đã tác động đến nước ta ngày càng khốc liệt. Ngập mặn ở đồng bằng sông Cửu Long ngày càng lấn sâu vào đất liền. Nếu như mực nước biển dâng cao 1 m, sẽ có khoảng 40% diện tích đồng bằng sông Cửu Long, nơi hiện sản xuất hơn 12 triệu tấn gạo/năm (xuất khẩu hơn 6 triệu tấn); khoảng 10 - 12% dân số Việt Nam bị ảnh hưởng đến đời sống và tổn thất khoảng 10% GDP. Hạn hán kéo dài và bất thường, nguồn nước ở các hệ thống sông lớn có xu hướng giảm nhanh, hai vùng bị ảnh hưởng nặng nhất đó là đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long (đồng bằng sông Cửu Long có năm xâm nhập mặn đã vào sâu trong đất liên từ 50-70km). BĐKH trong thời gian tới sẽ tác động rất lớn tới các nguồn nước, dòng chảy có xu hướng thấp đi, nhưng mùa lũ, có thể lại dữ dội hơn so với nhiều năm trước. Như vậy sự khắc nghiệt ngày càng gia tăng đối với nguồn tài nguyên nước của Việt Nam. Nước biển dâng, kèm theo bão tố, triều cường làm xâm nhập mặn, ngập lụt, xói lở sẽ ngày càng nghiêm trọng...

Viện nghiên cứu phát triển du lịch tiến hành đã cho thấy biến đổi khí hậu tác động trực tiếp tới phát triển du lịch ở nhiều khía cạnh sau. Tác động đầu tiên chính là ảnh hưởng đến tài nguyên du lịch, điểm hấp dẫn du lịch trong đó có cả những tài nguyên du lịch tự nhiên đã hình thành, tồn tại hàng triệu năm qua như Vịnh Hạ Long, vườn quốc gia Phong Nha- Kẻ Bàng, các bãi biển bị xói mòn...Tiếp theo là các hoạt động du lịch, đặc biệt là hoạt động lữ hành bị ảnh hưởng, đình trệ thậm chí huỷ do điều kiện thời tiết xấu liên tiếp, bão lụt, lũ quét di biến đổi khí hậu gây ra. Nhiều chương trình du lịch đến với khu vực miền Trung, vùng núi phía Bắc đã phải huỷ, hoãn, chấm dứt giữa chừng do mưa bão hay gần đây nhất là cơn bão số 9, số 11 đổ bộ vào miền Trung chính là minh chứng rõ nét nhất. Biến đổi khí hậu cũng tác động trực tiếp đến hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật của du lịch nhất là hệ thống giao thông, cơ sở lưu trú, khu vui chơi giải trí...

Hình 2. Sạt lở đất do ảnh hưởng của xói mòn và ảnh hưởng về thiên tai của Việt Nam so với các nước trong khu vực và thế giới

 

Tại hội thảo khoa học đánh giá việc biến đổi khí hậu đổi với hoạt động quản lý, phát triển các hoạt động du lịch Việt Nam năm 2010, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch Nguyễn Mạnh Cường khẳng định : "Du lịch là ngành kinh tế nhạy cảm với điều kiện môi trường tự nhiên do đó là một trong những ngành chịu ảnh hưởng nặng nề nhất do tác động của biến đổi khí dậu dẫn đến nước biển dâng cao". Hay như Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam cũng nhấn mạnh về vấn đề hợp tác nghị viện có ý nghĩa quan trọng trong ứng phó biến đổi khí hậu, phát triển bền vững, thúc đẩy giao lưu văn hóa, du lịch trong hội nghị thường niên lần thứ 26 Diễn đàn Nghị viện châu Á-Thái Bình Dương năm 2018. Như vậy vấn đề biến đổi khí hậu ảnh hưởng một cách sâu sắc đến phát triển du lịch nói chung, cũng như tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu nói riêng nên cần được quan tâm nghiên cứu.

2. Tiềm năng về du lịch của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu [7]

Tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu thuộc vùng Đông Nam bộ, trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, nằm trên trục đường xuyên Á, có hệ thống cảng biển, sân bay và mạng lưới đường sông thuận lợi. Tỉnh BR-VT tiếp giáp với TP.HCM ở phía Tây, với Đồng Nai ở phía Bắc, với Bình Thuận ở phía Đông. Khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 27 oC, lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1.600 mm và phân bố không đồng đều, gần 90% lượng mưa cả năm tập trung vào mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 và chỉ hơn 10% tổng lượng mưa tập trung vào mùa khô là các tháng còn lại trong năm.

Vị trí địa lý và khí hậu đã mang lại cho BR-VT nhiều thuận lợi về mặt du lịch. Do nằm trong vùng năng động nhất về kinh tế của Việt Nam nên có nhiều thuận lợi trong việc thu hút các nguồn khách du lịch của vùng Đông Nam bộ, Tây Nam bộ, TP.HCM; Số giờ nắng cao trong năm, nhiệt độ không khí khá ổn định, không có mùa đông và ít bão là các yếu tố tạo cho tỉnh có lợi thế hơn hẳn so với các tỉnh ven biển miền Bắc và miền Trung trong phát triển du lịch biển.

Ngoài ra, với bờ biển dài 305,4 km với khoảng 156 km có bãi cát thoai thoải, nước xanh, có thể sử dụng làm bãi tắm và hình thành các resort cao cấp kết hợp các loại hình du lịch thể thao biển. Bên cạnh đó, Côn Đảo là một huyện đảo thuộc Tỉnh với hệ thống 16 hòn đảo lớn nhỏ nằm sát đường hàng hải quốc tế từ châu âu sang châu Á tạo cho BR-VT tiềm năng du lịch biển phong phú. Hệ sinh thái biển và ven biển khá độc đáo, đa dạng ở Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu-Phước Bửu và Vườn Quốc gia Côn Đảo nhiều loài hải sản đặc sắc thích hợp cho các loại hình du lịch khám phá đại dương như: lặn biển, câu cá, ngắm san hô, câu cá ngừ đại dương, Suối nước nóng Bình Châu với nhiệt độ cao nhất lên đến 80oC thích hợp với nhu cầu du lịch nghỉ dưỡng, chữa bệnh của du khách, có nhiều núi với địa hình và cảnh quan đẹp trên núi như: Minh Đạm, Núi Dinh, Núi Lớn, Núi Nhỏ có khả năng hình thành các khu du lịch phức hợp qui mô quốc tế.

Di tích lịch sử, văn hóa của Bà Rịa-Vũng Tàu đa dạng và chịu ảnh hưởng những mức độ khác nhau của các nền văn hóa lâu đời gắn với biển: Đông Sơn, Sa Huỳnh, Đồng Nai. Một phần trong số các di tích lịch sử, văn hóa đều có khả năng khai thác phục vụ du lịch. Nhóm di tích lịch sử, kiến trúc tôn giáo bao gồm các kiến trúc đình, miếu, chùa chiền, nhà thờ ... trong đó có khu Đình Thắng Tam, thích Ca Phật Đài, Niết Bàn Tịnh Xá, Tượng Chúa Kytô, Bạch Dinh, Trận địa pháo cổ… là các địa điểm tốt để có thể phát triển thành các điểm du lịch lễ hội, tâm linh, nhóm di tích lịch sử, cách mạng và kháng chiến phản ánh quá trình đấu tranh bảo vệ tổ quốc của nhân dân vùng biển trong hai cuộc kháng chiến như: Địa đạo Long Phước, Căn cứ Minh Đạm, Khu căn cứ kháng chiến Bàu Sen, Bến Lộc An với đường Hồ Chí Minh trên biển, địa đạo Kim Long, nghĩa trang Hàng Dương, nhà tù Côn Đảo... là những địa danh nổi tiếng phục vụ cho loại hình du lịch tham quan, về nguồn. Các lễ hội dân gian mang đậm dấu ấn văn hóa truyền thống của người dân vùng biển cũng đã và đang được duy trì, phát triển thành các lễ hội văn hóa, du lịch, hàng năm thu hút rất đông du khách về hành hương, tế lễ như: Lễ hội Nghinh rước Cá ông (đình thần Thắng Tam), Lệ Cô (Dinh Cô Long Hải), Vía ông, Trùng Cửu (Đạo ông Trần).

3. Sự tác động của biến đổi khí hậu ảnh hưởng sâu sắc đến phát triển du lịch tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu

3.1. Biểu hiện biến đổi khí hậu tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu trong thời gian qua[3][4]

Trong những năm qua khí hậu tại tỉnh Bà Rịa- Vũng tàu có những biến đổi như sau:

Về nhiệt độ: Các số liệu về nhiệt độ tại trạm khí tượng quốc gia Vũng Tàu từ năm 1979-2015 cho thấy nhiệt độ trung bình, nhiệt độ tối cao tuyệt đối và nhiệt độ tối thấp tuyệt đối đều có xu hướng tăng, tốc độ tăng lần lượt là 0,024 0C/năm, 0,026 0C/năm và 0,040C/năm. Theo phân bố không gian, nhiệt độ trên toàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có sự thay đổi đáng kể, so sánh nhiệt độ năm 2009 với năm 1999 nhận thấy khu vực thuộc huyện Châu Đức, Tân Thành có mức thay đổi lớn nhất +0,4 0C đến +0,44 0C, mức độ thay đổi nhiệt độ giảm dần về phía biển thuộc các huyện Long Điền, Đất Đỏ, thành phố Vũng Tàu, Đông Nam huyện Xuyên Mộc với mức thay đổi từ +0,24 0C đến +0,32 0C.

Về độ ẩm: khảo sát cho thấy độ ẩm tương đối tại Vũng Tàu có xu hướng giảm với tốc độ - 0,009%/năm, độ ẩm tương đối trung bình năm vào khoảng 79,1%, độ ẩm năm cao nhất 80,3% (năm 2001); độ ẩm năm thấp nhất 77,4% (năm 2006). Trong các tháng mùa mưa độ ẩm cao hơn các tháng mùa khô và trung bình năm.

Về lượng mưa: Theo thời gian và không gian, phân bố lượng mưa trên toàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có sự thay đổi đáng kể, so sánh thay đổi lượng mưa năm 2009 với năm 1999 có sự thay đổi không đồng đều trong tỉnh, khu vực Đông Bắc các huyện Châu Đức, Xuyên Mộc có mức thay đổi tăng từ 0 đến 100mm; phía Đông Nam của huyện Châu Đức và Xuyên Mộc, huyện Đất Đỏ có mức thay đổi giảm từ 0 đến - 100mm; phía Đông Bắc huyện Tân Thành, Tây Nam huyện Đất Đỏ, thành phố Bà Rịa, huyện Long Điền, có mức thay đổi giảm từ -100 đến -300mm ; thành phố Vũng Tàu có mức giảm lớn nhất, từ -450mm đến -850mm. Từ đó nhận thấy khu vực các huyện Châu Đức, Xuyên Mộc có mức độ thay đổi lượng mưa ít hơn các khu vực khác trong tỉnh, thành phố Vũng Tàu là nơi có mức độ thay đổi (giảm) lớn nhất.

Về mực nước: Tốc độ dâng lên của mực nước trung bình năm tại trạm Vũng Tàu khoảng 0,3 cm/năm, trong khi mực nước tối cao dâng lên khoảng 0,44 cm/năm, thì mực nước tối thấp lại có xu hướng giảm -0,8 cm/năm.

Về hiện tượng thời tiết cực đoan: Trong những năm gần đây, tình hình thời tiết tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu trong thời gian qua đã có những biến đổi thất thường theo hướng tiêu cực.

Ở những vùng ven biển, đã thấy rõ hiện tượng vùng ngập triều cửa sông mở rộng hình phễu (hiện tượng estuary) trên những diện rộng, nhất là ở hạ du các hệ thống sông nghèo phù sa. Vào mùa khô, các nhánh sông và dòng sông ở các khu vực này đã không thể đóng vai trò tiêu thoát nước về phía biển, biến thành những dòng sông, kênh tù đọng gây ô nhiễm môi trường, phá hủy cảnh quan ảnh hưởng đến việc khai thác kinh doanh du lịch.
Bà Rịa – Vũng Tàu là tỉnh ven biển được đánh giá sẽ chịu tác động mạnh của BĐKH và nước biển dâng. Thực tế hơn 10 năm qua BR-VT đã chịu tác động khá rõ của BĐKH với 2 cơn bão lớn kế tiếp (tháng 11-1997) và (tháng 12- 2006) gây thiệt hại đáng kể về người và của mà theo thống kê trước đây, trung bình gần 100 năm BR-VT mới có một cơn bão lớn. Với dải ven bờ dài 156km (không kể Côn Đảo) là khu vực hết sức nhạy cảm với tác động của BĐKH. Nước biển dâng cùng với triều cường, sóng lớn và gió bão, chỉ sau một đêm làm xói lở và biến mất cả một dải đồi cát cao 3 - 4m rộng hàng chục mét và dài hàng trăm mét (khu vực cửa Lộc An năm 1997). Biến động bất thường của biển đã từng gây ra những hậu quả hết sức nghiêm trọng đối với vùng ven bờ, bồi lấp luồng lạch các cửa sông, ven biển của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Các khu vực đáng lo ngại nhất về xói lở và bồi lấp đã được nghiên cứu, xác định là khu vực Cửa Lấp thuộc thành phố Vũng Tàu và Phước Tỉnh thuộc huyện Long Điền; Các khu vực cửa Lộc An thuộc huyện Đất Đỏ, khu vực Hồ Tràm, Hồ Cốc và khu vực Bình Châu thuộc huyện Xuyên Mộc. Như vậy chắc chắn các ngành du lịch, nuôi trồng thủy hải sản và nghề đánh bắt ven bờ, các công trình xây dựng, cảng, đường giao thông và cư dân sinh sinh sống ven bờ sẽ chịu ảnh hưởng lớn.[6][10]

Hình 3.a) Bãi tắm khu vực cửa biển Lộc An bị biển xâm thực mạnh, nay chỉ có tàu cá ra vào, du khách không dám xuống tắm b)Tại khu cửa biển Lộc An, những hàng dương được trồng trên khu vực cát bồi đã phát triển tốt, nay chết gần hết do bị nước biển xâm thực trở lại.

 

Gia tăng tình trạng thiếu nước, suy giảm các hệ sinh thái... cũng là một cảnh báo đối với chúng ta. BR-VT là một tỉnh không có nguồn tài nguyên nước phong phú, chỉ có hai con sông chính cung cấp nước ngọt là sông Dinh và sông Ray. BĐKH sẽ làm thay đổi lượng mưa, gia tăng nhiệt độ có khả năng gây ra tình trạng thiếu nước nghiêm trọng vào mùa khô, thiếu nước sạch cho tưới tiêu, sản xuất và sinh hoạt. BĐKH cùng với nước biển dâng sẽ làm cho các nguồn nước ngọt (mặt, ngầm) sẽ bị nhiễm mặn, gây khó khăn cho cấp nước sinh hoạt, nông nghiệp và công nghiệp. Khi thiếu hụt nguồn nước cho sản xuất và sinh hoạt dẫn đến việc khai thác quá mức và không thể kiểm soát việc khai thác nước ngầm. Hiện tượng nhiễm mặn và ô nhiễm nước ngầm đã và đang xảy ra sẽ ngày càng gia tăng. Mỏ nước ngầm Bà Rịa, Tân Thành, nguồn cung cấp nước chủ yếu hiện nay của tỉnh nằm ngay sát biển mặn (gần 10 năm trước phát hiện đã bị dịch chuyển, lấn sâu vào đất liền khoảng 1km) có nhiều khả năng bị nhiễm mặn và tiến tới mất khả năng cấp nước. Vì vậy, suy thoái tài nguyên nước do BĐKH sẽ tác động mạnh đến cuộc sống người dân và phát triển KT-XH nói chung của BR-VT.

3.2. Biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến doanh thu du lịch biển Bà Rịa-Vũng Tàu[6]

"Nhiệt độ tăng - doanh thu giảm"-Đó là nhận xét của ông Phạm Trung Lương, phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Phát triển du lịch Việt Nam. Ông Lương dẫn chứng thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường cho thấy, nhiệt độ tại Việt Nam tăng lên từ 0,2-1 độ C trong thời gian từ năm 1980 đến nay. Sự gia tăng nhiệt độ khiến mùa nóng kéo dài hơn.[9]

Biến đổi khí hậu sẽ làm tăng các hiện tượng thời tiết cực đoan như bão, lốc xoáy, lũ... về cả tần suất và cường độ. Như vậy, việc tổ chức thành công các chương trình du lịch với các hoạt động tham quan, vui chơi giải trí ngoài trời sẽ khó khăn hơn.

Du lịch chủ yếu bao gồm các hoạt động nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí và lữ hành (đưa đón và hướng dẫn khách tại các địa điểm tham quan du lịch) nên phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố thời tiết. Do đó, nếu thời tiết xấu, các hoạt động du lịch sẽ bị ảnh hưởng rất lớn. Thậm chí, trong nhiều trường hợp các tour còn bị hủy bỏ.

Thêm vào đó, các chi phí để ứng phó với các biến đổi bất thường của thời tiết sẽ khiến cho giá tour du lịch bị đẩy lên. Đây cũng là nguyên nhân làm cho khách du lịch sẽ lựa chọn những nơi thuận lợi và chi phí phù hợp hơn.

Theo nhận định của Viện Nghiên cứu và Phát triển du lịch, du lịch biển của Việt Nam sẽ bị tàn phá nặng nề nhất trong khi thu nhập từ du lịch biển chiếm 70% doanh thu của toàn ngành; hàng năm thu hút khoảng 60% lượng du khách quốc tế; 50% lượng du khách nội địa...Nước biển dâng sẽ làm cho tài nguyên du lịch bị suy thoái, biến đổi, mất mát về lượng cũng như về giá trị phục vụ. Điều này sẽ làm cho khả năng phát triển sản phẩm du lịch bị ảnh hưởng nghiêm trọng và tất yếu sẽ dẫn đến suy giảm các tiền đề phát triển du lịch biển đảo nói riêng và cả nước nói chung.

Nước biển dâng cùng với sóng, gió, triều cường và nước dâng do bão gia tăng làm tăng ngập lụt và xói lở bờ biển, tác động trực tiếp đến các công trình xây dựng trên biển và ven bờ như các cảng du lịch, các nhà máy điện chạy khí và hệ thống chuyển tải, phân phối điện, bến bãi, kho tàng, các công trình xây dựng công nghiệp, hệ thống giao thông ven biển, hệ thống đê biển, các thành phố, đô thị, khu công nghiệp, làm gia tăng chi phí cho việc bảo vệ, gia cố, duy tu, bảo dưỡng hoặc di dời. Một số công trình đã bị phá hủy do không có khả năng bảo vệ.

Một số khu du lịch ven biển, các resort, khu nhà nhà hàng, khách sạn do tác động của nước biển dâng đã phải di dời hoặc biến mất gây tổn hại lớn cho các nhà đầu tư cũng như ngành du lịch. Mức độ tác động phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của địa phương và tình trạng của các công trình hạ tầng kỹ thuật.

Biến đổi khí hậu, đặc biệt là nước biển dâng tác động đến các nơi cư trú của cộng đồng dân cư ven biển và cơ sở hạ tầng về du lịch (khu nghỉ dưỡng, khách sạn ven biển) ảnh hưởng đến đời sống dân cư và làm giảm tính hấp dẫn của các khu nghỉ dưỡng và du lịch trên vùng núi cao. Những điều trên đây sẽ ảnh hưởng đến số lượng khách du lịch hàng năm, nhất là về mùa hè.

4. Một số giải pháp đối với sự biến đổi khí hậu nhằm thu hút khách du lịch đến với tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu trong giai đoạn hiện nay[10]

Với ảnh hưởng mạnh mẽ của biến đối khí hậu, tỉnh Bà Rịa-Vũng tàu cần có những giải pháp để khắc phục vấn đề này để thu hút khác du lịch đến với tỉnh nhà. Nhiều giải pháp được đưa ra nhìn chung tập trung vào ba vấn đề chính.

Vấn đề thứ nhất, đó chính là giảm thải khí nhà kính như CO2, SO2, NxOy…. Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có các hoạt động công nghiệp mạnh do khai thác và sử dụng nguồn nhiên liệu hóa thạch (dầu khí). Trong đó việc gia tăng trong khu công nghiệp như Phú Mỹ, Cái Mép, Tân Thành hàng loạt nhà máy cán thép, xi-măng, nhiệt điện... Hầu hết đều là những nhà máy tiêu tốn nhiều năng lượng, phát thải khí nhà kính CO2. Vấn đề về việc thải khí ra ngoài môi trường vẫn chưa được cơ quan chức năng trong tỉnh quan tâm đúng mức. Ví dụ điển hình trong các khu công nghiệp, chúng ta dễ dàng nhận thấy hiện tượng khói bụi làm cho không gian như có một lớp sương mù bao phủ. Ngoài ra, các bãi chôn lấp rác thải sinh hoạt, các cơ sở chế biến hải sản, các cơ sở chăn nuôi... cần có các biện pháp xử lý phát sinh khí mê-tan (CH4). Các nhà máy chế biển hải sản tại khu vực phường 12, cũng như bên Long Sơn đã gây ra một mùi hôi khó chịu, ảnh hưởng rất lớn đến vấn đề du lịch của địa phương khi các du khách đi qua các khu vực này. Vậy nên, cần kiểm soát các nhà máy về vấn đề môi trường, bắt buộc sử dụng các công nghệ có mức phát thải thấp trong sản xuất và sử dụng năng lượng, quản lý nhu cầu năng lượng, sử dụng năng lượng hiệu quả để giảm tiêu thụ năng lượng. Có các chính sách và biện pháp quản lý để phục vụ mục tiêu tăng cường bể hấp thụ khí nhà kính, đồng thời phát triển và bảo vệ rừng, trong đó có các khu rừng ngập mặn gần các cửa sông, ven biển, khu vực thị xã Bà Rịa, TP Vũng Tàu. Trồng và tái trồng rừng phủ xanh đất trống, đồi núi trọc.

Vấn đề thứ hai, bảo vệ các vùng bờ và các cửa sông ven biển. Đây là giải pháp quan trọng đối với các vùng ven biển để chống BĐKH và nước biển dâng. Tại khu vực tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, gần cửa sông lớn có những khu vực sạt lở nghiêm trọng. Khi đó sóng, gió mạnh và dòng chảy ven bờ rất phức tạp. Ngoài ra, khu vực cửa sông thường có nền đất yếu, đặc biệt khu vực có các dự án phát triển du lịch, nghỉ dưỡng tắm biển, thì giải pháp xây dựng đê cứng dọc theo đường bờ ở các khu vực này thì không phù hợp. Do vậy, khu vực Nam cửa Lộc An, Bà Rịa - Vũng Tàu đã áp dụng giải pháp kè 'mềm' (Sở KH và CN đã thực hiện năm 2005). Giải pháp này không chỉ chống được xói lở, mà còn phục hồi bãi, đồi cát và đã ổn định hơn năm năm, được thử thách qua cơn bão lớn năm 2006 và phục vụ hiệu quả cho hoạt động du lịch cũng như làm đẹp cảnh quan, môi trường. Bên cạnh đó, các cơ quan chức năng cần tuyệt đối cấm khai thác cát vùng cửa sông, ven biển dưới bất kỳ hình thức nào vì việc làm này sẽ chính là nguyên nhân trực tiếp gây xói lỏ nghiêm trọng trong mấy năm qua do mất cân bằng thủy động lực và dịch chuyển bùn cát ven bờ. Song song với đó, việc trồng cây gấp mặn để giữ đất ở những bãi bồi, vùng ngập nước ven biển là điều thiết yếu. Các khu vực Tân Thành, vùng ven thị xã Bà Rịa, thành phố Vũng Tàu, Long Điền, Đất Đỏ và Xuyên Mộc đây là những vạt rừng ngập mặn bảo vệ chống xói lở cần được bảo vệ nghiêm ngặt và đây cũng chính là vùng sinh quyển quý giá bảo đảm sự trong lành cho phát triển du lịch và sức khỏe của chúng ta. Ngoài ra cũng cần bảo vệ nghiêm ngặt, không cho phá các dải đồi cát ven biển để xây dựng công trình hoặc lấy cát san lấp, nhất là khu vực TP Vũng Tàu. Đó là những lá chắn của tự nhiên bảo vệ thành phố khi xảy ra những biến cố bất thường của BĐKH, bão tố và sóng biển (thí dụ sóng thần).

Vấn đề thứ ba, đó là bảo vệ tài nguyên nước. Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cũng nên quan tâm đến nguồn tài nguyên thiên nhiên quý hiếm và quan trọng này vì nó đang đối mặt với nguy cơ ô nhiễm và cạn kiệt do khai thác, sử dụng không đúng cách và cũng do tác động của BĐKH mang lại. Do vậy, việc bảo vệ và sử dụng hiệu quả nguồn nước đối với chúng ta là cực kỳ quan trọng không chỉ trước mắt còn trong tương lai. Bảo vệ tài nguyên nước thật ra không quá khó khăn nếu được sự đồng lòng của cả cộng đồng với tinh thần trách nhiệm cao của Nhà nước, chính quyền địa phương các cấp. Tuyên truyền rộng rãi Luật Tài nguyên nước để mỗi người dân, mỗi doanh nghiệp phải nêu cao ý thức sử dụng tiết kiệm và bảo vệ tài nguyên nước, tự giác thực hiện các quy định của pháp luật trong việc bảo vệ nguồn tài nguyên quý giá này, không khai thác tràn lan chỉ vì lợi ích nhỏ mà ảnh hưởng đến các thế hệ sau, đặc biệt là trước tác động phức tạp của BĐKH toàn cầu.

Như vậy, rõ ràng BĐKH ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống sinh hoạt của nhân dân, ảnh hưởng đến mọi hoạt động kinh tế trong đó có vấn đề về du lịch. Chúng ta không thể chờ đợi quả đất bớt nóng lên, mà phải làm gì để bảo vệ môi trường sống cho hôm nay và cho mai sau nếu biến đổi khí hậu (BĐKH) kết hợp những bất thường của thời tiết. Sóng lớn, bão tố, nước dâng đột ngột, triều cường từ biển sẽ gây ngập lụt, xói lở những khu vực ven sông, biển. Tất cả chúng ta phải sớm nhận diện những tác động của BĐKH đến các lĩnh vực cụ thể để có giải pháp ứng phó, khắc phục giảm thiểu là việc làm cấp thiết hiện nay.

Tài liệu tham khảo

[1] Viện Khoa học Khí tượng, Thủy văn và Môi trường, "Biến đổi khí hậu và tác động ở Việt Nam"

[2] Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch, "Các giải pháp thích ứng và ứng phó, góp phần giảm nhẹ tác động của biến đổi khí hậu đối với hoạt động du lịch ở Việt Nam"
[3] Trần Đình Phương, Hoàng Lê Nhung, Xâm nhập mặn mùa khô các năm 2011-2013 ở Đồng bằng sông Cửu Long và công tác dự báo mặn của Đài Khí tượng Thủy văn khu vực Nam Bộ;

 [4] Nguyễn Thị Liễu, Huỳnh Thị Lan Hương Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường Ảnh hưởng của BĐKH đến tính mùa vụ trong hoạt động du lịch biển ở Việt Nam. 
[5] Báo cáo Đánh giá tác động của BĐKH – NBD đối với ĐBSCL đến năm 2020 và định hướng đến năm 2050, VNMC, 2011

[6]https://bom.to/TNhErp

[7]https://bom.to/auorA4

[8]https://bom.to/0JC0Tl

[9]https://bom.to/4beSSu

[10]http://baobariavungtau.com.vn/khoa-hoc-cong-nghe/201611/cong-trinh-chong-xoi-lo-bo-bien-loc-an-nha-thau-nuoc-ngoai-loi-hen-706873/

 

ThS. Vũ Thị Hồng Phượng

 

CÁC BÀI VIẾT CÙNG CHUYÊN MỤC