XUẤT NHẬP KHẨU VÀ LOGISTICS: gắn kết để phát triển

Lượt xem: 1244

Ngày đăng: 17/12/2016

Năm 2015, kim ngạch xuất khẩu (XK) của VN đạt mức 327,76 tỷ USD, tăng 10% so với năm trước. Tuy nhiên lượng hàng hóa cần vận chuyển và sử dụng các dịch vụ của ngành logistics trong nước chỉ chiếm khoảng 20 – 25% tổng kim ngạch XK. Làm thế nào để khoảng 80% khối lượng hàng hóa dịch vụ của ngành xuất nhập khẩu dành về cho logistics VN. Điều đó rất cần sự gắn kết của hai ngành kinh tế mũi nhọn này.

§Õn ngµy 1-12-2002, C¶ng Sµi Gßn ®· hoµn thµnh kÕ ho¹ch bèc xÕp c¶ n¨m víi 11 triÖu tÊn hµng hãa, gi¶i phãng 2.700 l­ît tµu ra vµo bÕn, ®¹t 100% kÕ ho¹ch s¶n l­îng n¨m, v­ît tr­íc thêi h¹n 31 ngµy, t¨ng 18,5% so víi cïng kú n¨m ngo¸i.§©y lµ n¨m C¶ng Sµi Gßn ®¹t n¨ng suÊt vµ s¶n l­îng cao nhÊt tõ tr­íc ®Õn nay. Trong ¶nh : Bèc xÕp ph©n bãn nhËp khÈu ë bÕn T©n ThuËn. ¶nh : Thanh Phµn-TTXVN.

Với khối lượng hàng hóa vận chuyển trong nước là 60 – 70 triệu tấn/năm, khối lượng vận chuyển ra nước ngoài chiếm 160 – 170 triệu tấn/năm cho thấy đây là thị trường tiềm năng với các doanh nghiệp (DN) logistics VN. Nhưng trong thực tế, các DN XK VN lại đi tìm những nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài bằng hình thức xuất hàng theo giá FOB và nhập theo giá CIF.

Trước hết, nếu làm ngược phương thức truyền thống như phần đông DN VN vẫn làm, tức là nhập khẩu theo giá FOB và xuất khẩu theo giá CIF, các DN XK VN sẽ thu được hiệu quả kinh doanh lớn hơn, nhưng tức nhiên phải chịu rủi ro cao hơn. Khi xuất khẩu hàng theo giá CIF, DN XK VN phải chịu toàn bộ rủi ro khi hàng đang được vận chuyển trên đường biển đến cảng người nhập, và không phải tất cả các rủi ro đều thuộc phạm vi bảo hiểm của doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm. Chấp nhận rủi ro để thu được hiệu quả lớn hơn chưa trở thành thói quen trong kinh doanh XNK ở VN.

Mặt khác, vốn của các DN XNK VN không mạnh, phần lớn phải vay ngân hàng nên thường không đủ tiền trả cước phí vận tải bảo hiểm. Ngoài ra, do XK của VN thường là các nguyên liệu thô sơ hoặc sơ chế. Vì vậy, tỷ lệ cước phí so với tiền hàng là rất ca, có khi chiếm tới 50% giá trị hàng hóa trong khi cước bình quân chỉ chiếm khoảng 10%.

Còn với các doanh nghiệp logistics VN yếu điểm cơ bản là năng lực vận tải vẫn còn hạng chế. Tính đến năm 2012, đội tàu VN có khoảng 1.654 tàu với 6,2 triệu DWT, tương đương với trọng tải trung bình là 3.800 DWT chính vì vậy chưa thể đáp ứng đầy đủ, nhanh chóng nhu cầu vận chuyển lượng hàng hóa XNK trong thời gian qua.

Với gần 1.000 nhà cung ứng dịch vụ logistics hiện nay của VN, nhưng các DN có đủ tầm để thực hiện trọn gói dịch vụ 3PL còn rất ít. Hầu hết vẫn là DN có vốn nhà nước liên doanh với nước ngoài như: Transimex-Saigon; Tiếp vận Thăng Long; Sotrans; Vinafco; Vinafrieght;… còn lại các DN logistics VN chủ yếu đang dừng lại ở dịch vụ vận tải giao nhận thương mại XNK.

Cước phí của dịch vụ logistics VN còn cao hơn nhiều so với các DN nước ngoài. Các chính sách đi kèm như quản lý rủi ro đối với hàng hóa vận chuyển chưa thực hiện chuyên nghiệp… May Nhà Bè, một công ty có số lượng hàng hóa XK lớn trong những năm qua nhưng 100% lượng hàng hóa đề xuất khẩu theo gia FOB. Ông Đinh Văn Thập, Giám đốc điều hành cho biết: "Các LSP VN chưa chủ động được khâu vận chuyển hàng hải những khối lượng hàng hóa lớn. Chủ yếu còn phụ thuộc vào các hãng vận tải nước ngoài nên các DN logistics VN còn phụ thuộc các DN nước ngoài về các khoảng chi phí". Theo ông Thập, các DN XNK phải đóng thêm các phí hay bị tăng mức phí như: Phí CFS: 16 USD/CBM đến 21 USD/CBM; phí THC 6-7 USD/CBM; phí vệ sinh container 5-10 USD/cont.

Làm thế nào để thay đổi tập quan kinh doanh của các DN XNK VN là xuất FBO và nhập CIF và phát triển năng lực của ngành logistics VN không chỉ cần các chính sách vĩ mô của Chính phủ mà rất cần sự gắn kết của ngành XNK và dịch vụ logistics trong nên kinh tế.

Chính phủ cần có những chiến lược mang tầm quốc gia để định hướng sự phát triển của ngành logistics. Đó là các chính sách đầu tư dài hạn, các chế độ ưu đãi về vốn vay, hải quan, ngân hàng… cho các doanh nghiệp đầu tư vào ngành logistics.  Cần nâng cấp lực lượng vận tải biển VN để đủ sức vận chuyển hàng hóa từ VN đi các nước trên thế giới và ngược lại với độ an toàn cao và giá cước hợp lý. Đây là nhân tố quan trọng nhất để các doanh nghiệp kinh doanh XNK yên tâm khi trao gửi hàng hóa của mình cho nhà vận tải khi xuất khẩu, nhập khẩu.

Đẩy nhanh hơn nữa việc chuyển đổi hình thức sở hữu trong DN nhà nước, tạo ra sự cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh giữa các doanh nghiệp trên thương trường. Từ đó, đảm bảo hiệu quả kinh doanh tối đa tất yếu sẽ trở thành mục tiêu quan trong nhất để theo đuổi. Khi các DN nhà nước có quy mô hiện nay chuyển đổi thành công ty cổ phần và hoạt động kinh doanh không có sự bảo hộ của Nhà nước, đi tiên phong thực hiện phương thức "mua FOB, bán CIF" như các thương nhân nước ngoài thì dần dần các doanh nghiệp khác cũng thực hiện theo.

Cá DN kinh doanh trong lĩnh vực logistics cần nhanh chóng năng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn, ngoại ngữ, kiến thức về thương mại quốc tế để hỗ trợ đắt lực cho các DN kinh doanh XNK khi thực hiện "mua FOB, bán CIF". Đó cũng chính là bước chuẩn bị quan trọng để chính lĩnh thị trường logistics khi chúng ta mở rộng thị trường này.

Lúc đó bài toán về sự gắn kết của DN XNK và DN dịch vụ logistics VN đã có lời giải.

-Theo VIETNAM LOGISTICS review -