Giáo dục khởi nghiệp: Mối quan hệ giữa giáo dục và hoạt động khởi nghiệp

Lượt xem: 377

Ngày đăng: 24/09/2017

 

Giới thiệu

Tầm quan trong của hoạt động khởi nghiệp cho quá trình tăng trưởng kinh tế của các quốc gia càng ngày được đề cao hơn. Tổng quan nghiên cứu cho thấy mối quan hệ cần thiết giữa giáo dục, hình thành dự án mới và hiệu quả khởi nghiệp, cũng như giữa giáo dục khởi nghiệp và hoạt động khởi nghiệp. Mục đích chính của nghiên cứu này là đưa đa những nhận định về giáo dục khởi nghiệp. Trong đó giải thích ý nghĩa của giáo dục khởi nghiệp, và nhấn mạnh đến sự cần thiết  gia tăng các chương trình giáo dục này. Nghiên cứu cũng cho thấy công cụ phù hợp nhất để đánh giá các kết quả của giáo dục khởi nghiệp là đánh giá sự hình thành dự án kinh doanh mới. Tuy nhiên, một số nghiên cứu cho rằng kết quả của những chương trình như vậy không manh tính tức thì. Vì vậy, nhiều nhà nghiên cứu đã cố tìm hiểu về tiền thân của sự hình thành doanh nghiệp mới, kết luận rằng thực sự cần thiết để thực hiện các nghiên cứu theo chiều dọc. Dựa vào tổng quan nghiên cứu về mối quan hệ tồn tại giữa giáo dục khới nghiệp và hoạt động khởi nghiệp, các chủ đề chủ yếu đã được nghiên cứu theo những hướng học thuật khác nhau. Các nhà nghiên cứu đã cho thấy mối quan hệ cùng chiều của giào dục khởi nghiệp đã đặt ra thử thách nhân đổi cho chính phủ trong tương lai: đó là nhu cầu gia tăng của các quỹ tài chính để hỗ trợ cho giáo dục khởi nghiệp và sự lựa chọn chương trình giáo dục thích hợp.

Khởi nghiệp đã nổi lên trong vòng ba thập kỷ vừa qua, được xem như là nhân tố kinh tế tiềm năng nhất mà nhân loại từng chứng kiến. Sự tập trung vào phát triển kinh tế, và thậm chí là các chương trình quản trị kinh doanh hệ đại học, đã tập trung ngày càng nhiều hướng về tinh thần khởi nghiệp hơn. Điều này làm tăng sự quan tâm đến vai trò của các nhà khởi nghiệp trong nền kinh tế, dẫn tới các nghiên cứu ngày càng nhiều với mong muốn nhận diện các nhân tố làm thúc đẩy khởi nghiệp.

Mức độ khởi nghiệp khác nhau giữa các quốc gia và theo thời gian. Kể cả những nguyên nhân lẫn hệ quả của khởi nghiệp là một vấn đề quan trọng và gây ra những tranh luận giữa các nhà khoa học, các nhà thiết kế chính sách và chính phủ. Một mức độ cao của hoạt động khởi nghiệp được cho và thể hiện góp phần thức đẩy cạnh tranh, sáng tạo, tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm và lối sống công dân. Theo giám sát khởi nghiệp toàn cầu (Global Entrepreneurship Monitor – GEM 2008), có sự tán thành cao về tầm quan trọng của khởi nghiệp đối với phát triển kinh tế. Các nhà khởi nghiệp làm thúc đẩy quá trình sáng tạo: họ tăng cường những thay đổi trong cấu trúc của nền kinh tế và các công ty trong ngành cũ phải cải cách để từ đó tạo ra đóng góp gián tiếp về năng suất.

Theo Verheul, Wennekers, Audretsch và Thurik (2001), có nhiều nhân tố giúp giải thích mức độ của khởi nghiệp, bao gồm các nhân tố kinh tế lẫn xã hội. Ngoài ra, nhìn chung đều đồng ý rằng nhân tố chính sch1 cũng ảnh hưởng tới mức độ khởi nghiệp.  Chính sách công có thể gây ra ảnh hưởng đối với khởi nghiệp theo nhiều hướng: hướng trực tiếp thông qua cac phương pháp cụ thể và hướng gián tiếp thông qua các phương pháp chung. Ví dụ, khi cân nhắc các quy định về chính sách cạnh tranh, chính phủ có thể tác động tới cấu trúc thị trường và (gián tiếp) tới số lượng cũng như các dạng cô hội khởi nghiệp.

Thêm vào đó, chính phủ có thể tác động tới tỷ lệ khổi nghiệp không nhửng thông qua luật pháp, mà còn thông qua hệ thống giáo dục. Giáo dục được xem rất quan trọng cho quá trình mô phỏng khởi nghiệp bởi vì một vài lý do (Reynolds, Hay và Camp, 1999; Sánchez, 2010a). Đầu tiên, giáo dục đào tạo những cá nhân với lòng tự tin và tư duy độc lập. Thứ hai, giáo dục giúp tạo ra những cá nhân có nhân thức về chọn lựa nghề nghiệp khác nhau. Thứ ba, giáo dục giúp mở ra những chân trời mới cho các cá nhân, theo cách đó tạo ra những con người được trang bị tốt hơn để tận dụng các cơ hội, và cuối cùng, giáo dục giúp đem đến những kiến thức mà có thể giúp các cá nhân có thể phát triển các cơ hợi khởi nghiệp mới.

Các nhà khởi nghiệp phải tự dung "sinh ra" mà họ trở thành thông qua những trải nghiệm trong cuộc đời. Qua giáo khởi nghiệp hiệu quả, một cá nhân có thể tiếp cận với các kỹ năng và kiến thức cần thiết để bắt đầu và khởi sự một doanh nghiệp mới. Peter Drucker, một trong những nhà tư tưởng quản trị hàng đầu của thế kỷ trước, đặt ra câu hỏi rằng: "Liệu có sự thần bí về khởi nghiệp?". câu trả lời của ông đó là không phải phép màu, nó cũng không huyển bí và nó không liên quan tới di truyền. Đó là sự rèn luyện và bất kỳ sự rèn luyện cũng có thể học được (Drucker, 1985).Theo Kuratko và Hodgets (2004), khởi nghiệp là một quá trình động về tầm nhìn, sự thay đổi và sáng tạo. Nó đòi hỏi đưa sức lực và đam mê hướng về sự sáng tạo và thực hiện các ý tưởng mới và các giải pháp hữu hiệu. Theo quan điểm này, khởi nghiệp không đơn thuần chỉ đơn giản chỉ là sự tạo ra doanh nghiệp mới.

Theo Kuratko (2005), góc nhìn về khởi nghiệp có thể được phát triển theo các cá nhân. Góc nhìn này có thể được thể hiện tùy theo bên trong hay bên ngoài tổ chức, theo tổ chức lợi nhuận hay phi lợi nhuận, và theo các hoạt động kinh doanh hay phi kinh doanh, cho mục đích khơi mào các ý tưởng sáng tạo. Khởi nghiệp là một thuật ngữ tổng hợp mà nó nhắm vào việc kinh doanh của một cá nhân theo một lối sáng tạo. Theo góc nhìn này đã cách mạng hóa phương pháp kinh doanh để nó được dễn ra ở bắt kì mức độ nào trong mỗi quốc gia. Cuộc cách mạng bắt đầu theo định hướng kinh tế, và khởi nghiệp là một động lực có ảnh hưởng lớn.

Theo Báo cáo kinh tế doanh nghiệp nhỏ (Small Business Economic Report, 2006), một nghiên cứu gần đây đo lường ảnh hưởng của giáo dục nói chung đối với khởi nghiệp và hiệu quả khởi nghiệp đưa ra 3 kết luận chính. Đầu tiên, bằng chứng cho thấy một mối tương quan bền chặt cùng chiều giữa giáo dục và hiệu quả khởi nghiệp. Thứ hai, mặc dù mối quan hệ giữa giáo dục và sự lựa chọn khởi nghiệp hơi khá mơ hồ, bằng chứng cho thấy khi "sự cần thiết khởi nghiệp" và "cơ hội khởi nghiệp" được xem xét riêng rẽ, và khi xet xét đến sự khác nhau giữa các quốc gia, mối quan hệ này ít mơ hồ hơn. Cuối cùng, môi tương quan giữa giáo dục và sự lựa chọn khởi nghiệp theo bản chất là phi tuyến tính.

Bên cạnh sự khác nhau về khái niệm khởi nghiệp thì cũng có một số quan điểm giống nhau. Hầu hết các nghiên cứu cho rằng khởi nghiệp được "gán" cho các nhà khởi nghiệp, giới hạn các đặc điểm hay hành vi thông dụng đối với tính cách khởi nghiệp thay vì yếu tố môi trường (Holmgren, From Olofsson, Karlsson, Snyder & Sundtrom, 2004; Sánchez, 2010b).

Bài viết này nhằm mục đích đưa ra một số vấn đề về giáo dục khởi nghiệp. tác giả giải thích thuật ngữ giáo dục khởi nghiệp. Thảo luận các vấn đề tiếp theo của bài viết sẽ là "Hướng nghiên cứu chính nào trong lĩnh vực giáo dục khởi  nghiệp?" và "Chủ đề nào nên được nghiên cứu trong tương lai?".

Giáo dục khởi nghiệp là gì?

Hansemark (1998) cho rằng giáo dục truyền thống được xem chỉ là sự chuyển đổi giữa kiến thức và các kỹ năng, trong khi giáo dục khởi nghiệp thì ngược lại, được biết đến như là mô hình thay đổi thái độ và động cơ. Khởi nghiệp và giáo dục khởi nghiệp, bên cạnh những lợi ích rõ ràng, ví dụ như thúc đẩy thành lập doanh nghiệp mới, cũng có tiềm năng về thị trường mở rộng (Holmgren và cộng sự, 2004).

Hai trong số điều kiện tiên quyết cho thành công trong khi bắt đầu kinh doanh mới, đó là sự khát khao và năng lực thực hiện. Tinh thần khởi nghiệp không chỉ được yêu cầu rong khóa học khởi nghiệp cơ bản, mà nó rõ ràng còn đặt trong các mối quan hệ nhu cầu cao về nhân sự độc lập (Frank, Korunka, lueger & mugler, 2005).

Giáo dục khởi nghiệp nhằm tìm ra những cá nhân, đặc biệt là lớp trẻ, kể cả nhưng người dám nghĩ dám làm có mong muốn trở thành nhà khởi nghiệp hoặc những người có tư tưởng khởi nghiệp có thể đóng góp vào sự phát triển kinh tế và cộng đồng bền vững.

Theo thông điệp của Uy ban Châu Âu European Commision "Thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp thông qua giáp dục và học tập", giáo dục khởi nghiệp có thể được định nghĩa như sau: "Khởi nghiệp liên quan tới khả năng một cá nhân có thể chuyển hóa các ý tưởng thành hành động. Nó bao gồm sự sáng tạo, sự đổi mới và chịu đựng rủi ro, cũng như khả năng xây dựng và quản lý các dự án để đạt được mục tiêu đề ra. Điều này giúp hỗ trợ mọi người trong cuộc sống hàng ngày tại nhà và trong xã hội, làm cho người lao động nhận thức hơn về môi trường công việc của họ và có khả năng năm bắt cơ hội tốt hơn, và cung cấp nền tảng cho các nhà khởi nghiệp có thể tạo ra một hoạt động xã hội hay thương mai" (Commission of the European Communities, 2006: 4).

Theo Hiệp hội giáo dục khởi nghiệp (The Consortium for Entrepreneurship Education, 2008) cho rằng giáo dục khởi nghiệp thì không chỉ đơn giản là dạy cho ai đó cách điều hành doanh nghiệp. Nó còn khuyến khích suy nghĩ nghĩ sáng tạo và thúc đẩy ý thức chứng minh giá trị và khả năng bản thân. Thông qua giáo dục khởi nghiệp, sinh viên học được làm sao để kinh doanh, nhưng họ còn học được nhiều hơn như thế. Kiến thức cốt lỗi tạo ra thông qua giáo dục khởi nghiệp bao gồm như sau:

- Khả năng nhận diện các cơ hội trong cuộc sống

- Khả năng theo đuổi các cơ hội, bằng cách đưa ra các ý tưởng mới và tìm được các nguồn tài trợ.

- Khả năng mở đầu và điều hành một công ty mới

- Khả năng suy nghĩ theo hướng sáng tạo và phản biện tư duy

Vì thế, bên cạnh kiến thức và kỹ năng kinh doanh, giáo dục khởi nghiệp còn chủ yếu nói về sự phát triển của những niềm tin nhất định, giá tr và thái độ nhằm mục tiêu đưa sinh viên thực sự xem khởi nghiệpnhư là một đề tài thu hút và hợp pháp giúp giái quyết vần đề lao động và thất nghiệp (Holmgren và cộng sự 2004, Sánchez, 2010a).

Sự phát triển của giáo dục khởi nghiệp. điều đó thực sự cần thiết trong chủ đề này. Jamieson (1984) cho rằng khởi nghiệp có 3 loại. Tác giả phân biệt giữa giáo dục về doanh nghiệp, giáo dục cho doanh nghiệp và giáo dục trong doanh nghiệp, tìm hiểu vai trò của các loại giáo dục được đề cập. Loại thứ nhất chủ yếu nhắc về sự tạo ra nhận thức, và có mục tiêu giáo dục sinh viên các vấn đề về thiết lập và điều hành doanh nghiệp (từ khung lý thuyết). Các học phần doanh nghiệp trong kinh doanh và các khóa học khác ở mức độ cho sinh viên chưa tốt nghiệp hay sau đại học có thể cũng nằm trong loại này.

Giáo dục cho doanh nghiệp, loại thứ hai, tập trung về huấn luyện cho các nhà khởi nghiệp có hoài bãi cho nghề nghiệp tự làm chủ mà mục tiêu khuyến khích người tham gia xây dựng và điều hành doanh nghiệp do chính họ điều hành. Các cá nhân được chỉ bảo những kỹ năng thực tế yêu cầu cho quản trị doanh nghiệp. Khóa học thường nhằm hướng về sự chuẩn bị cho kế hoạch kinh doanh. Khởi nghiệp kinh doanh và "bắt đầu quá trình kinh doanh" sẽ là ví dụ của loại thứ hai về huấn luyện khởi nghiệp này.

Loại thứ 3, giáo dục trong doanh nghiệp, bao gồm đào tạo quản trị cho các nhà khởi nghiệp đã thành lập công ty và tập trung đảm bảo quá trình mở rộng và phát triển kinh doanh. Ví dụ các chương trình này có thể là các khóa học về quản trị kinh doanh, phát triển sản phẩm và tiếp thị. Đào tạo như vậy giúp phát triển các kỹ năng, kiến thức và thái độ cho các nhà khởi nghiệp tiếp tục đổi mới và giải quyết các vấn đề hiện hữu cho bản thân họ và doanh nghiệp của mình

Gravan và O'Cinéide (1994) đưa ra quan điểm rộng về phân loại giáo dục và đạo tạo khởi nghiệp, phân biệt giữa giáo dục khởi nghiệp và giáo dục đào tạo dành cho những người sở hữu công ty nhỏ. Loại đầu tiên được mô tả "giáo dục khởi nghiệp nhằm tạo ra một cơ hội học tập về những điều kiện kinh doanh mới, cũng như các lý thuyết khác nhau liên quan tới  các loại đặc điểm cần thiết cho khởi nghiệp thành công" (Henry, Hill & Leitch, 2005:5).

Tuy nhiên, Garavan và O'Cinnéide (1994) tập trung nhiều hơn vào giáo dục và đào tạo cho chủ sở hữu những doanh nghiệp kinh doanh nhỏ và được phân loại thành 3 loại mà liên quan tới mức độ phát triển của cá nhân theo giai đoạn: (i) giáo dục kiến thức kinh doanh thường xuất hiện trong trường trung học; (ii) giáo dục và đào tạo cho các doanh nghiệp nhỏ; (iii) giáo dục chuyên môn mà có thể hiểu là giúp con người hoàn thiện các kỹ năng của mình.

Theo các tác giả này thông thường đa số xem mục đích của giáo dục khởi nghiệp như sau:

- Có những kiến thức hữu dụng để khởi nghiệp

- Tăng khả năng tiếp thu sử dụng các phương tiện, đánh giá các tình hình kinh doanh , và sự tạo ra các kế hoạch hành động.

- Nhận diện và học hỏi các kỹ năng khởi nghiệp

- Phát triển sự thấu cảm và hổ trợ các vấn đề về khởi nghiệp

- Phát triển nhận thức hướng về sự thay đổi

- Thúc đẩy các ý tưởng và dự án kinh doanh mới

Đối với mục đích của bài viết này tác giả muốn làm sáng tỏ phân biệt giữa "giáo dục kinh doanh" và "kinh doanh nhỏ và giáo dục đào tạo khởi nghiệp". Các mục tiêu giáo dục khởi nghiệp đa phần liên quan đến phát triển những người dám nghĩ dám làm và khuyến khích thái độ tự làm chủ bằng cách sử dụng các quá trình học tập phù hợp. Chương trình giáo dục và đào tạo khởi nghiệp nhằm mục đích trực tiếp khuyến khích khởi nghiệp (hấu hết hướng về những nhà khởi nghiệp tìm kiếm và phát triển cơ hội).

Hầu hết các nghiên cứu về giáo dục khởi nghiệp chủ yếu tập trung ở mức độ đại học (Ví dụ Raposo, Ferreira, Paco & Rodrigues, 2008; Sánchez, 2009) hoặc mức độ trung học (ví dụ Paco, Ferreira, Rodrigues & Dinis, 2008; Rodrigues, Dinis, Paco & Ferreira, 2008). Tuy nhiên một số các tác giả cho rằng quá trình giáo dục nay mới bắt đầu gần đây. Ví dụ như Landstrom và Sexton (2000) nói rằng trẻ em cần được học khởi nghiệp từ khi còn nhỏ. Vì vậy giáo dục khởi nghiệp nên được bắt đầu khi khi càng trẻ càng tốt.

Có một điều cần chú ý rằng khởi nghiệp và giáo dục khởi nghiệp, bắt đầu từ khi còn trẻ, không chỉ liên quan tới kinh doanh, thành lập công ty mới. Khởi nghiệp hầu như cần phải thực hiện với khả năng mà một cá nhân phải biến đam mê của mình thành hành động.

Với giáo dục và sự khích lệ ngày càng nhiều, tuổi trẻ nên có khả năng nhận ra ham muốn khởi nghiệp của mình. Điều này sẽ làm tăng sự phát triển kinh tế trong cộng đồng và mở ra nhiều công việc mới và cơ hội nghệ nghiệp hứa hẹn, trong bất kỳ giai đoạn kinh tế nào. Mặc dù không phải tất cả những người trẻ sẽ đều trở thành những nhà doanh nhân, tất cả sinh viên và lợi ích xã hội khi các cá nhân được giáo dục có nền tảng, điều đó sẽ giúp họ có những kiến thức khởi nghiệp và kỹ năng để sử dụng trong suốt cuộc đời.

Một số nghiên cứu về giáo dục khởi nghiệp

Một số lượng đáng kể các bái viết tiếp cận và hướng về chủ để giáo dục hướng nghiệp, kể cả ký thuyết lẫn thực nghiệm. Một khảo sát thú vị về giáo dục khởi nghiệp công bố từ năm 1985 đến năm 1994, dựa trên các bài viết học thuật hàng đầu, được khảo sát bởi Gormon, Hanlon và King (1997). Nội dung chính trong nghiên cứu của họ là xem xét mức độ của giáo dục chính thức có thể đóng góp như thế nào cho khởi nghiệp. Họ cho rằng trong nghiên cứu thực nghiệp được công bố, trong suốt thời kỳ nghiên cứu dường như đều có sự nhất trí giữa các nhà nghiên cứu khi cho rằng khởi nghiệp có thể được giảng dạy và các thuộc tính khởi nghiệp có thể ảnh hưởng tốt bởi các chương trình giáo dục.

Một cái nhìn tổng quan các nghiên cứu từ năm 1995 đến năm 2005 về sự tồn tại mối liên hệ giữa các hình thức khởi nghiệp khác nhau đối với hoạt động khởi nghiệp, đặc biệt là, các nghiên cứu thực nghiệm giữa giáo dục đối với hoạt động tạo ra các dự á, được giới thiệu trong báo cáo công bố năm 2006 "The Small Business Economy – a Report to the President of USA". Bài viết tổng hợp một phạm vi rộng các bái báo có cùng quan điểm và bắt nguồn từ ba tổ chức về khởi nghiệp tại Mỹ: USASBE (United States Associations for Small Business and Entrepreneurship), ICSB (International Council for Small Business and Entrepreneurship) và The Babson – Kauffman Entreprenuership Conference.

Dựa theo tình trạng các nghiên cứu về giáo dục khởi nghiệp, có thể nói rằng có những dấu hiệu về mối quan hệ giữa giao dục khởi nghiệp và hoạt động khởi nghiệp. Bằng chứng cũng cho thấy có một giai đoạn thời gian dài giữa học tập giáo dục và hoạt động sau đó.

Kết quả được công bố bởi ủy ban Châu Âu (European Commission 2008) cho rằng giáo dục khởi nghiệp đầu tiên và trước hết cung cấp các khóa học về kinh doanh. Tuy nhiên các phương pháp và chương trình học thì không phải lúc nào cũng hiệu quả nhất và phù hợp nhất cho sinh viên.

Cũng theo đó, hiệp hội thành viên EU cũng nhận thấy nhu cầu của giáo dục khởi nghiệp cần được đưa vào chương trình giáo dục chính thức. Tuy nhiên, thay đổi vẫn cần xem xét để điều này trở thành hiện thực. Tông số các quốc gia trong EU đưa khởi nghiệp vào trọng chương trình giáo dục cua mình là rất thấp. Vì thế thực sự cần thiết thúc đẩy để đưa khởi nghiệp như là nhâ tố quan trọng trong chương trình quốc gia của tất cả các thành viên. Theo quan điểm này, các nghiên cứu khác cần được tiến hành để xác định các kiến thức, kỹ năng và khả năng cần thiết, trong lĩnh vực khởi nghiệp, mà thực sự quan trọng cho các cá nhân khi tham gia thị trường lao động và trở thành các nhà khởi nghiệp.  Nghiên cứu này có thể đóng góp vào qua trình thiết kế chương trình giáo dục tốt hơn. Bên cạnh đó, nhận thức tốt hơn về kỹ năng, khả năng khởi nghiệp và sự phổ biến nhiều hơn, có thể "thuyết phục" các quốc gia đưa chương trình như đã đề cập vào trường học chính thức.

Có hai vấn đề cơ bản nên cần phân tích theo hướng độc lập: vai nhà các nhà giáo dục, giáo viên và vai trò của gia đình hạt nhân: Liệu họ có thực sự quan trọng anh hưởng tới một đứa trẻ để trờ thành một nhà khởi nghiệp tương lai? Bằng cách nào họ có thể thúc đẩy thể hệ trẻ tự lập và sáng tạo hơn? Giáo dục khởi nghiệp yêu cầu cần một khoảng thời gian nhất định. Các khóa học riêng lẻ và trải nghiệm học tập không đủ, và nên được đưa vào các hoạt động dạy học thông thường và ở các mực độ trong hệ thống giáo dục. Theo đó, thầy cô và ch mẹ có chức năng quan trọng trong quá trình thúc đẩy và phát triển tinh thần khởi nghiệp. Vấn đề này cần được nghiên cứu một cách cụ thể.

Sự thiếu kiến thức về những kỹ thuật giảng dạy hiệu quả cho các nhà giáo dục khởi nghiệp được xem là một vấn đề đáng cân nhắc, xuất phát từ nghiên cứu qua trình giảng dạy khởi nghiệp chưa thực sự phát triến như thế nào (Holmgren và cộng sự, 2004).

Các nghiên cứu theo thời gian tập trung nhiều về kiến thức nhưng chưa đề cập nhiều tới khả năng, hay thậm chỉ tập trung quá nhiều vào thông tin thay đổi các phương pháp học tập mà chưa tập trung váo các phương pháp học tập theo nhóm nhỏ. Có rất ít các đánh giá về mức độ hiệu quả của các chương trình giáo dục khởi nghiệp. Thiếu các bằng chứng về các chiến lược học tập tác động như thế nào tới sự phát triển của các kỹ năng khởi nghiệp và những kỹ năng này chuyển thành những ý tưởng sáng tạo mới. Vì vậy, chủ đề này cân được nghiên cứu nhiều hơn trong tương lai.

Kết luận

Mục đích chính của bài viết này là đưa ra một cái nhìn toàn cảnh về các nghiên cứu liên quan tới mối quan hệ giữa giáo dục khổi nghiệp và cac hoạt động khởi nghiệp.

Hệ thống giao dục ảnh hưởng tới nền tảng kiến thức, sự hình thành các kỹ năng, khả năng và thái độ cho sự lựa chon nghề nghiệp tương lai. Bới vì các quyết định này cần thiết cho tương lai các cá nhân, trường học cần có trách nhiệm hình thành và khơi mở cho sinh viên các lựa chọn nghề nghiệp trong phạm vi rộng trong đó bao gồm khởi  nghiệp.

Tổng quan nghiên cứu đưa ra những dấu hiệu về mối tương quan dương giửa giáo dục khởi nghiệp và hoạt động khởi nghiệp sau đó. Bằng chứng này đưa ra các lý do để hỗ trợ các cơ hội cho mọi người ở các lứa tuổi cần cố gắng học tập. Thêm vào đó, giáo dục và đào tạo nên tập trung nhiều vào sự thay đổi nhận thức cá nhân hơn là kiến thức, bởi vì sự tác động quan trọng hơn đối với quá trình kinh doanh và vượt qua những rào cản đối với khởi nghiệp. Hệ thống khởi nghiệp cần tập trung đề cao giá trị khởi nghiệp để thúc đẩy văn hóa kinh doanh.

Trong tương lai phương pháp luận về giáo dục khởi nghiệp có thể là một chủ để thú vị nhận được nhiều quan tâm. Phương pháp giảng dạy đúng đán và quá trình học tập hợp lý chắc chắn sẽ rất quan trọng cho thanh công của các chương trình giáo dục khởi nghiệp. Sự quan tâm ngày càng nhiều về giáo dục khởi nghiệp và các nghiên cứu liên quan tới ảnh hưởng của giáo dục như vậy đặt ra các câu hỏi chính sách quan trọng cho các tổ chức thực hiện các chương trình giáo dục khởi nghiệp và để hổ trợ cho các tổ chức tài trợ.

Nghiêm Phúc Hiếu

 

CÁC BÀI VIẾT CÙNG CHUYÊN MỤC