CÁC GIÁ TRỊ TÍCH CỰC TRONG TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC CỦA NHO GIÁO VÀ SỰ VẬN DỤNG CỦA NGƯỜI NHẬT BẢN (Ths. Trương Nữ Vân Thi & Ths. Lâm Ngọc Như Trúc)

Lượt xem: 29057

Ngày đăng: 17/04/2015

 

Ths. Trương Nữ Vân Thi & Ths. Lâm Ngọc Như Trúc

Abstract

Confucianism is one of the most important philosophy, political, and social doctrines in the philosophical history of ancient China. Although it appeared in the early ages, Confucianism favored humanism, especially education. Education thoughts of Confucianism have great effects on political and social life not only in China but also in other countries such as Japan. Japan is one of the countries which have employed these values effectively towards training and developing labor force to meet the demand of building and developing their economy and society.  

Nho giáo là một trong những học thuyết triết học và chính trị xã hội lớn nhất trong lịch sử triết học của Trung Quốc. Mặc dù ra đời từ rất sớm nhưng Nho giáo đã dành sự quan tâm đặc biệt đến con người, đặc biệt là vấn đề giáo dục con người. Tư tưởng giáo dục của Nho giáo chứa đựng nhiều giá trị tích cực và đã có những ảnh hưởng to lớn đến đời sống chính trị - xã hội không chỉ của Trung Quốc mà còn với rất nhiều nước Châu Á khác, trong đó có Nhật Bản.

Trong nhiều thập kỉ, nhờ có sự vận dụng đúng đắn và sáng tạo các giá trị tư tưởng tích cực của Nho giáo vào trong lĩnh vực giáo dục, Nhật Bản đã có những bước phát triển lớn lao ở lĩnh vực này.

1. Các giá trị tích cực trong tư tưởng giáo dục của Nho giáo

Vì ra đời trong bối cảnh lịch sử đầy biến động của xã hội Trung Quốc thời Xuân Thu - Chiến Quốc nên tư tưởng giáo dục của Nho giáo không thể tránh khỏi những nhược điểm và hạn chế nhất định. Tuy nhiên, trong phạm vi giới hạn của đề tài, chúng tôi chọn và phân tích về các giá trị tích cực trong tư tưởng giáo dục của Nho giáo.

Thứ nhất, về quan niệm và mục tiêu của giáo dục: Nho giáo có nhiều yếu tố tiến bộ khi quan niệm rằng giáo dục là cần thiết cho tất cả mọi người "hữu giáo vô loại" (việc dạy dỗ không phân biệt loại người) (Luận Ngữ) [8, Tr.82] nên ai ai cũng có cơ hội được học tập và giáo dục là biện pháp để hướng con người tới những phẩm chất cao quý như nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Đó là những giá trị chuẩn mực của con người trong xã hội phong kiến.

Bên cạnh đó, Nho giáo đã đưa ra một số mục tiêu cụ thể như sau: giáo dục là để hình thành nhân cách lý tưởng; để đào tạo ra đội ngũ quan lại nhằm giúp ích cho nước nhà; và để tỏ cái đức sáng, đạt tới chỗ chí thiện. Như vậy, có thể nói mục đích chính của giáo dục theo quan điểm của Nho giáo là nhằm đào tạo ra những con người lý tưởng, có sự hoàn thiện cả về đạo đức, nhân cách cũng như tri thức, lối sống.

Nhờ giá trị tích cực này, giáo dục đã trở thành công cụ hữu hiệu nhất và là con đường ngắn nhất để đào tạo lớp người cai quản và thống trị xã hội theo hệ tư tưởng phong kiến. Đó là lớp người quân tử. Ngoài ra, thông qua giáo dục, các nhà Nho còn muốn truyền bá hệ tư tưởng phong kiến của giai cấp thống trị thấm sâu đến mọi tầng lớp trong xã hội (đặc biệt là đối với giai cấp bị trị) và chiếm địa vị độc tôn để đảm bảo ổn định trật tự xã hội lúc bấy giờ.

Thứ hai, về nội dung giáo dục: tiền đề lịch sử - xã hội cho sự ra đời tư tưởng giáo dục của Nho giáo là bối cảnh lịch sử, kinh tế - xã hội thời Xuân thu - Chiến quốc. Đó là giai đoạn lịch sử mà xã hội Trung Quốc cổ đại có nhiều biến động với nhiều sự đảo lộn lớn, nhất là về mặt đạo đức con người. Trước thực trạng đó, các nhà Nho đã chủ trương giáo dục "đạo làm người" – tức là thông qua giáo dục mà đào tạo ra những con người cần có và phù hợp với yêu cầu của giai cấp thống trị, những con người luôn luôn suy nghĩ và hành động theo những chuẩn mực, quy phạm đạo đức. Nếu Khổng Tử chú trọng đến việc giáo dục: nhân, trí, dũng, lễ… thì Tuân Tử - một nhà Nho sống chủ yếu ở thời kỳ Chiến quốc đã đề cao vai trò của lễ, nhạc trong việc giáo dục con người, trong đó chữ nhân có nội hàm sâu rộng nhất. Nó được coi là nguyên lý đạo đức cơ bản để quy định bản tính của con người và thiết lập mối quan hệ giữa người với người trong gia đình và xã hội. Đây là nội dung sâu sắc, có tác dụng giáo hóa cho con người, giúp con người hướng đến những giá trị tốt đẹp.

Thứ ba, về phương pháp giáo dục: các nhà Nho sớm đưa ra được nhiều quan điểm tiến bộ về phương pháp giáo dục như: phương pháp kết hợp học đi đôi với hành (lời nói kết hợp với việc làm, thực hành điều đã học và đem tri thức của mình vận dụng vào trong cuộc sống): "Quân tử bác học ư văn; ước chi dĩ lễ; diệc khả dĩ phất bạn hỹ phù" (Người quân tử trước học văn chương (như Kinh Thi, Kinh Thư) đặng mở rộng trí thức của mình; kế đó, người nương theo lễ giáo mà kiềm giữ lấy nết mình; nhờ vậy mà khỏi trái đạo lý)  (Khổng Tử, Luận Ngữ) [8, Tr.94 – 95]; phương pháp coi trọng tinh thần tự giác, sự nỗ lực của người học: "Bất phẫn, bất khải; bất phỉ, bất phát. Cử nhứt ngung, bất dĩ tam ngung phản, tắc bất phục giã" (Kẻ nào chẳng phấn phát lên để hiểu thông, thì ta chẳng giúp cho hiểu thông được. Kẻ nào chẳng ráng lên để tỏ ý kiến mình, thì ta chẳng khai phát cho được. Kẻ nào đã biết rõ một góc, nhưng chẳng chịu căn cứ vào đó để biết luôn ba góc kia, thì ta chẳng dạy kẻ ấy nữa(Khổng Tử, Luận Ngữ) [8, Tr.100 – 101]; phương pháp "ôn cố tri tân" (ôn cũ để biết mới): Ôn "cố nhi tri tân, khả dĩ vi sư hỹ" (Người nào ôn lại những điều đã học, do nơi đó mà biết thêm những điều mới, người đó có thể làm thầy thiên hạ) - (Khổng Tử, Luận Ngữ) [8, Tr.134]; phương pháp "nêu gương": theo Khổng Tử, ngoài học Thầy, học trong sách vở còn học cả trong cuộc sống "ba người cùng đi, tất có người làm thầy; lựa cái hay của người này mà học, xét cái quấy của người kia mà tự sửa mình" [8, Tr. 176]…

Có thể nói, Nho giáo đã đưa ra những phương pháp rất cụ thể, thiết thực nhằm giúp cho học trò có thể lĩnh hội được tri thức, không ngừng hoàn thiện bản thân mình. Nó cũng làm cho những nội dung của tư tưởng giáo dục trở nên phong phú, có ý nghĩa to lớn đối với không chỉ người học và còn với cả người thầy và hoạt động giáo dục nói chung.

Thứ tư, về vai trò và vị trí của người thầy trong quá trình giáo dục: theo quan điểm của Nho giáo, người thầy là người hướng dẫn cho học trò tự học. Quá trình dạy và học là quá trình trao đổi giữa thầy và trò, giúp cho học trò có kiến thức, chủ động để có thể ứng phó trong mọi hoàn cảnh. Cũng theo các nhà Nho, người thầy không chỉ có kiến thức cao thâm để dạy học trò mà muốn trò giỏi, người thầy cần phải có tư cách, phẩm chất đạo đức tốt đẹp để làm gương cho học trò noi theo. Nhân cách của người thầy có sức thuyết phục mạnh mẽ với người học, người học sẽ nhìn vào tấm gương là thầy mà tin rằng những điều thầy giảng dạy chính là chân lý, là những điều đúng đắn, tốt đẹp. Như vậy, theo quan điểm của Nho giáo, người thầy đóng một vai trò rất quan trọng trong quá trình giáo dục. Người thầy không chỉ có vai trò định hướng cho học trò mà còn giúp cho học trò có thể bỏ ác, tích thiện, hướng đến những giá trị tốt đẹp của đạo đức, nhân cách. Do đó, có thể nói, để việc giáo dục thật sự có hiệu quả không thể thiếu vai trò của người thầy.

Tóm lại, Nho giáo đặc biệt quan tâm đến vấn đề giáo dục và đào tạo con người. Nho giáo cho rằng, giáo hóa con người là một trong những nhiệm vụ cơ bản của nhà cầm quyền và cũng là phương tiện hữu hiệu để đưa xã hội từ "loạn lạc" thành "thái bình/thịnh trị". Tư tưởng giáo dục của Nho giáo đã chứa đựng nhiều yếu tố hợp lý, đã trở thành công cụ hữu hiệu của nhiều triều đại lịch sử trong việc giáo hóa dân chúng để giữ gìn trật tự xã hội.

2. Sự vận dụng các giá trị tư tưởng tích cực của Nho giáo ở Nhật Bản

Sau khi du nhập vào Nhật Bản, từ cuối thế kỉ IV Nho học dần dần được tầng lớp quí tộc Nhật Bản coi trọng. Năm 604, Thái tử Shotoku đã dùng lí tưởng Nho học để xây dựng Hiến pháp. Đến thời Nara (710 – 794) và và giai đoạn đầu của thời Heian (794 – 1185) Nho học phát triển mạnh mẽ trong tầng lớp quí tộc và tăng sĩ. Từ cuối thời kì Heian, Nho giáo bước vào giai đoạn suy thoái. Từ thời kì Kamakura, đặc biệt là thời Muromachi cho đến thời kì Sengoku, Nho giáo bắt đầu được khôi phục trở lại với sự phát triển của Chu Tử học phái (shushigakuha - 朱子学派). Trong giai đoạn này, người Nhật tìm đến Chu Tử học phái (朱子学派) trước hết là mong muốn tìm ở đây một học thuyết có thể phân định được ngôi thứ, ràng buộc được nhân tâm, từ đó chấmdứt cảnh loạn lạc liên miên vốn đang tồn tại hàng trăm năm. Bước sang thời kì Edo (1603 – 1868) – thời kì thái bình và ổn định - Chu Tử học phái (朱子学派) được khuyến khích và trở thành học phái Nho giáo chính thống của nhà nước gọi là Quan Nho phái -官儒派. Và cũng kể từ thời điểm này, người Nhật Bản đã vận dụng một cách sáng tạo các giá trị tư tưởng tích cực của Nho giáo trong giáo dục.

Thứ nhất, về quan niệm giáo dục: từ thời kì Edo giáo dục của Nho giáo không còn được xem là đặc quyền của tầng lớp quí tộc với sự ra đời và được thừa nhận của nhiều học phái Nho giáo khác nhau. Trong đó, Dương Minh học phái (youmeigakuha – 陽明学派) được xem là một trong những học phái thu hút người học đông đảo nhất do chủ trương đề cao chữ "tâm" của con người và chú trọng đến vấn đề kinh tế, đến giới bình dân. Dương Minh học phái luôn mở rộng cửa đón nhận người học với tất cả tinh thần bình đẳng triệt để.

Từ thời Minh Trị, từ triết lý "đạo đức"của Nho giáo, Chính phủ Nhật Bản đã có chính sách không phân biệt hoàn cảnh, sắc tộc, tôn giáo, giai tầng của bất cứ thành phần nào trong vấn đề tuyển chọn nhân tài để đưa sang các nước phương Tây du học hay nói khác hơn, triết lý "đào tạo người phục vụ cho đất nước" của Nhật Bản lúc này là dựa trên nguyên tắc công bằng và bình đẳng dành cho tất cả mọi người. Do đó, nó đã tạo cho người dân Nhật niềm tin rằng họ đang sống trong một môi trường xã hội công bằng, trong đó nguồn gốc xuất thân, tài sản thừa kế không quan trọng bằng sự cố gắng bản thân. Đây chính là một trong những nhân tố nhanh chóng mang lại hiệu quả cho việc phát triển kinh tế - xã hội Nhật Bản nói chung và nền giáo dục Nhật Bản nói riêng.

Có thể nói, trên cơ sở kế thừa giá trị tư tưởng tích cực của Nho giáo khi cho rằng giáo dục là dành cho tất cả mọi người, người Nhật đã phát triển ý niệm về sự bình đẳng và biến nó trở thành một đặc điểm quan trọng trong hệ thống giáo dục của mình, tạo động lực cho sự phát triển của cá nhân và xã hội..

Thứ hai, về mục đích giáo dục: không giống với cách vận dụng của một số dân tộc khác (người Trung Quốc, Triều Tiên, Việt Nam,…) khi xác định mục đích giáo dục của Nho giáo là để thi cử và tuyển chọn quan lại, người Nhật đã vận dụng nó vào việc tạo ra một nền học thuật tự do. Ở Trung Quốc, Việt Nam và một số nước khác, người đảm trách Nho giáo là người có học, chủ yếu là quan lại hoặc kẻ sĩ làng quê. Còn ở Nhật Bản, người đảm trách Nho giáo là những chuyên gia nghiên cứu Nho học và những võ sĩ (Samurai) tìm đến Nho giáo như là môn học về luân lí cá nhân. Do vậy, người Nhật luôn công nhận sự tồn tại của nhiều trường phái Nho giáo khác nhau. Ví dụ: trong thời kì Edo, mặc dù Chu Tử học phái (Shushigakuha - 朱子学派) của (đại diện tiêu biểu là) Hayashi Razan (林羅山)được xem là chính thống (Quan Nho phái -官儒派 ) nhưng không vì thế mà các học phái khác không được thừa nhận. Ngoài Chu Tử học phái, có thể kể ra nhiều học phái khác trong thời kì Edo như: Dương Minh học phái (Youmeigakuha - 陽明学派)của Nakae Touju (中江藤樹), Kumazawa Banzan (熊沢蕃山); Cổ học phái (Kougakuha- 古学派) của Itou Jinsai (伊藤人斎); Công lợi chủ nghĩa phái (Kourishugiha - 功利主義派) của Ogyuu Sorai (荻生将来)... Tùy theo quan điểm của từng lãnh chúa (Daimyo) ở các địa phương khác nhau mà các học phái được thừa nhận và trọng dụng một cách rất khác nhau. Ví dụ: ở các Phiên khác nhau, người ta có thể lựa chọn trí thức để phục vụ cho mình từ nhiều nguồn học vấn khác nhau: có Phiên sử dụng trí thức Chu Tử học, có phiên lại dùng phái Cổ học hay Dương Minh học… Chính quyền trung ương không tham dự vào công việc này. Nhờ thế mà trí thức Nhật Bản không bị "đóng khuôn" kiến thức. Ngoài ra, các học phái Nho giáo ở Nhật Bản thời bấy giờ về phương diện tư tưởng đều luôn đấu tranh, phê phán nhau kịch liệt, nhờ vậy tạo điều kiện cho học thuật và xã hội tiến bộ.Ví dụ: Dương Minh học phái (Youmeigakuha - 陽明学派)có nội dung tư tưởng chống lại chính sách cố định thành phần (cấm thay đổi thành phần trong xã hội) của chính quyền Mạc phủ; và phê phán Chu Tử học phái (Shushigakuha - 朱子学派) ở nội dung mong muốn xã hội yên bình trong một trật tự nghiêm khắc. Dù phản đối kịch liệt các tư tưởng mới của Dương Minh học phái (Youmeigakuha - 陽明学派)nhưng qua các cuộc tranh luận, các phái bảo thủ khác (tầng lớp bảo thủ) cũng lặng lẽ tiếp thu khá nhiều những tư tưởng có tính cách cách mạng của Dương Minh học phái (Youmeigakuha - 陽明学派).

Thứ ba, về nội dung giáo dục: nội dung chủ yếu của giáo dục theo quan điểm của Nho giáo là giáo dục đạo làm người. Nho giáo ở các nước về cơ bản là giống nhau, đều giáo dục Tam cương, Ngũ thường… Tuy nhiên, nếu đi vào chi tiết thì do hoàn cảnh lịch sử và truyền thống văn hóa dân tộc, nội dung giáo dục của Nho giáo ở mỗi nước có sự khúc xạ khác nhau. Nếu như ở Trung Quốc nhấn mạnh chữ "hiếu", ở Triều Tiên – Hàn Quốc nhấn mạnh chữ"Lễ", ở Việt Nam nhấn mạnh chữ "Nghĩa" thì người Nhật Bản nhấn mạnh chữ "Trung" (Quan điểm của giáo sư Tsuboi Yoshiharu, Nhật Bản) [10]. Ở Nhật Bản, chữ "Trung" là quan điểm đạo đức được đề cao nhất. Trong đạo đức của người Samurai, bao giờ lòng trung thành với chủ cũng được đề lên hàng đầu. Do vậy, ở Nhật thường có hiện tượng, khi người chủ của các Samurai chết đi thì các Samurai ấy sẽ trở thành "Rou nin" (Lãng nhân – Võ sĩ thất nghiệp) vì chữ "Trung" (một Samurai không được thờ hai chủ). Những Rou nin này lên các khu đô thị sinh sống và trở thành trí thức đô thị hay thương nhân – chính điểm này đã khiến Nho giáo Nhật Bản mang tính chất "đô thị" và nội dung giáo dục của Nho giáo Nhật Bản dễ dàng tiếp thu các yếu tố khoa học tiến bộ từ phương Tây. Lan học (Phong trào học tập người Hà Lan của người Nhật) với các học giả của nó (được gọi là "Tây Nho") có ảnh hưởng xâu sắc trong xã hội Nhật Bản.  Bước sang thời Minh Trị, chính sách giáo dục của Nhật Bản có nhiều thay đổi. Nho giáo lúc này chỉ được coi như là công cụ để giáo dục đạo đức, nhất là giáo dục lòng trung thành với Thiên hoàng. Điểm đặc biệt của Nhật Bản là trước khi phổ biến các đạo lý phương Tây như tự do, bình đẳng, độc lập... người Nhật đã tạo ra một giai đoạn trung gian, nhằm dung hòa đạo đức Nho giáo vốn đã ăn sâu trong lòng người dân suốt hàng trăm năm của thời đại Edo với các quan điểm đạo đức mới. Ví dụ, giáo dục đạo đức công dân thời Minh Trị mặc dù được thực hiện như một môn học hiện đại, song vẫn lồng ghép trong đó những tư tưởng Nho giáo như đề cao lòng trung thành với Thiên Hoàng và phục tùng chính phủ ("Lòng trung hiếu của thần dân là tinh hoa của Quốc thể, là ngọn nguồn của giáo dục") [7, Tr.59]. Thời gian sau, dưới ảnh hưởng của các phong trào dân tộc, giáo dục đạo đức công dân hiện đại bị thay đổi nội dung khá nhiều và ngày càng nhuốm màu của chủ nghĩa dân tộc. Ngày nay, đối với người Nhật, vấn đề giảng dạy đạo đức - được nhìn nhận như một điều kiện tiên quyết để hiện đại hóa đất nước từ khía cạnh xã hội.

Tóm lại, từ thực tế vận dụng các giá trị tư tưởng tích cực trong giáo dục của Nho giáo Nhật Bản, chúng ta có thể nói rằng Nhật Bản đã tiếp thu Nho giáo với một tinh thần dân tộc mạnh mẽ và riêng biệt để đào tạo ra những con người phù hợp với tình hình phát triển của xã hội Nhật Bản. Nhờ đó Nhật Bản đã có thể sớm thoát khỏi tình trạng bảo thủ trì trệ của một xã hội phong kiến phương Đông để chuyển mình mau lẹ vào thế giới hiện đại.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bremen, J. (1992), A beacon for the twenty-first century - Confucianism after the Tokugawa era in Japan, in Ideology and practice in modern Japan, (Roger Goodman and Kirsten Refsing, eds.), London and NewYork: Routledge.

2. Nguyễn Thanh Bình (2000), "Nho giáo với vấn đề phát triển kinh tế và hoàn thiện con người", Tạp chí Giáo dục lý luận, (5), tr.35-38.

3. Nguyễn Thanh Bình (2001), "Đôi điều suy nghĩ về đối tượng giáo dục giáo hoá của Nho giáo", Tạp chí Giáo dục lý luận, (10), tr.50-54.

4. Đặng Xuân Kháng (2000), Terakoya – chỗ dựa đầu tiên của nền giáo dục hiện đại Nhật Bản, Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản số 5/2000.

5. Phạm Văn Khoái (2004), Khổng phu tử và Luận ngữ, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.

6. Trần Trọng Kim (2008), Nho giáo, Nxb. Văn hoá Thông tin, Hà Nội.

7. Kobayashi Tetsuya (1976), Schools, society and progress in Japan, Pergamon Press, Oxford.

8. Nguyễn Hiến Lê (1996), Khổng Tử, Nxb. Văn hoá, Hà Nội.

9. Luận ngữ (1950), Đoàn Trung Còn dịch, Nxb Trí Đức, Sài gòn

10. Tamai, K. (1999) Confucianism as cultural constraint, Theoretical and Applied Linguistics at Kobe Shoin, No.2.

11. Tsuboi, Yoshiaki (1990) Betonamu niokeru Jukyo, Shiso Jukyoto Ajia Shakai, No.792, 6 gatsu, Tokyo:Iwanami, 172.

12. Wei-Hsun, C. (1995) A methodological examination of the "Post-Confucian Thesis" in relation to Japanese (and Chinese) economic development, in Japan - in traditional and postmodern perspectives, Charles Wei-Hsun Fu and Steven Heine (Eds)

Download tài liệu đính kèm