Phong cách học tập và quy trình học tập qua trải nghiệm

Lượt xem: 93

Ngày đăng: 11/10/2018

Phong cách học tập (Learning style) và Quy trình học tập qua trải nghiệm (The experimential learning cycle)

Phong cách học tập – Learning style

Keefe (1979) định nghĩa phong cách học tập là tập hợp của nhận thức, cảm xúc và những yếu tố sinh lý cá nhân đóng vai trò như những chỉ số liên quan mật thiết cùng nhau về cách thức một người học lĩnh hội, tương tác và phản ứng lại với môi trường học tập.
Stewart và Felicetti (1992) định nghĩa phong cách học tập là môi trường giáo dục mà trong đó người học có hứng thú học tập tốt nhất.

Nhìn chung, phong cách học tập không hẳn liên quan đến nội dung mà là cách thức người học yêu thích, áp dụng trong học tập.

Năm 1984, David Kolb giới thiệu các phong cách học tập do ông tổng hợp. Kolb phát biểu rằng học tập bao gồm việc thu nhận những khái niệm trừu tượng mà từ đó có thể ứng dụng một cách linh hoạt trong nhiều tình huống khác nhau. Đa phần lý thuyết của ông liên quan đến quá trình nhận thức bên trong của người học.

Lý thuyết học tập qua trải nghiệm được mô tả qua hai cấp độ:

  • Quy trình 4 bước về học tập;
  • 4 phong cách học tập.

Quy trình 4 bước về học tập

            Bước 1 – Củng cố trải nghiệm (Concrete Experience – CE): Người học gặp phải một trải nghiệm mới hoặc sự xuất hiện trở lại của một trải nghiệm đã gặp trước đây.

            Bước 2 – Suy nghĩ về trải nghiệm mới (Reflective observation of the new experience - RO): Người học tìm hiểu, suy nghĩ để tìm ra những mâu thuẫn giữa trải nghiệm mới và những hiểu biết của mình.

            Bước 3 – Hình thành khái niệm trừu tượng (Abstract conceptualization - AC):  Suy nghĩ về ý tưởng mới hoặc điều chỉnh một khái niệm đã biết.

            Bước 4 – Trải nghiệm chủ động (Active experimentation – AE): Người học ứng dụng ý tưởng, khái niệm mới trong thực tế để thu thập kết quả.

Quá trình học tập hiệu quả khi người học trải qua 4 giai đoạn: (1) gặp vấn đề mới, sau đó (2) tìm hiểu, suy nghĩ dẫn đến (3) việc hình thành khái niệm, khái quát hóa vấn đề để (4) sử dụng trong thực tế với kết quả là những trải nghiệm mới.

Kolb (1974) đưa ra quan điểm quá trình học tập như một quy trình tích hợp với mỗi giai đoạn hỗ trợ lẫn nhau và giai đoạn trước làm nền tảng cho giai đoạn kế tiếp. Cũng theo Kolb, người học có thể bắt đầu từ bất cứ giai đoạn nào, miễn là theo đúng quy trình thì vẫn có thể thu được kết quả như nhau.

Các phong cách học tập do David Kolb đề xuất

Năm 1974, Kolb đưa ra 4 phong cách học tập khác nhau nhưng đều dựa trên nền tảng quy trình 4 bước như trên. Ông lý giải mỗi người khác nhau đều ưa thích một cách thức học tập khác nhau. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc người học lựa chọn cách thức nào, điển hình như các yếu tố môi trường xã hội, kinh nghiệm giáo dục, cấu trúc thần kinh liên quan đến nhận thức của mỗi cá nhân).

Việc ưu tiên lựa chọn phong cách học tập thực chất là một tổ hợp gồm 2 cặp biến số hoặc 2 "lựa chọn" riêng biệt mà chúng ta có thể chọn. Kolb biểu diễn các cặp biến số này trên đồ thị 2 trục như sau:

  • Trục quá trình xử lý (trục hoành): Diễn tả cách thức người học tiếp cận một vấn đề.
  • Trục quá trình nhận thức (trục tung): Diễn tả cảm giác, cảm xúc của người học.

Để có thể dễ dàng tìm hiểu 4 phong cách học tập do Kolb đề xuất, ta có thể xem xét mối quan hệ của chúng theo dạng ma trận 2 hàng – 2 cột. Mỗi kiểu hình là kết quả của sự kết hợp 2 yếu tố. Theo đó, 4 kiểu hình cụ thể thu được là:

  • Thích nghi
  • Phân kỳ
  • Đồng hóa
  • Hội tụ

 

Chủ động áp dụng

(Thực hành)

Tìm hiểu, suy nghĩ

(Quan sát)

Củng cố trải nghiệm

(Cảm tính)

Thích nghi

(Cảm tính + Thực hành)

Phân kỳ

(Quan sát + Cảm tính)

Hình thành khái niệm

(Suy nghĩ)

Hội tụ

(Suy nghĩ + Thực hành)

Đồng hóa

(Suy nghĩ + Quan sát)

Việc hiểu được phong cách học tập nào là phù hợp giúp cho quá trình học tập được định hướng rõ ràng. Từ các phương pháp này, chúng ta có thể hiểu được đặc điểm về quá trình tư duy của mỗi cá nhân phù hợp.

Phân kỳ (Diverging)

Người phù hợp với phong cách phân kỳ là người có khả năng nhìn nhận sự việc theo nhiều hướng khác nhau. Họ thường khá nhạy cảm. Họ thích quan sát hơn thực hiện, có xu hướng thu thập thông tin và sử dụng trí tưởng tượng để giải quyết vấn đề. Họ là những người giỏi nhất trong việc tiếp cận vấn đề theo nhiều cách khác nhau.

Kolb đặt tên phong cách này là phân kỳ vì những cá nhân phù hợp thường thể hiện tốt trong các tình huống đòi hỏi việc tạo ra ý tưởng, ví dụ như các hoạt động động não (brainstorming). Người có phong cách học tập phân ký thường quan tâm sâu sắc tới các yếu tố văn hóa – xã hội, nhân văn và ưa thích thu thập thông tin.

Người phân kỳ còn quan tâm tới con người, có trí tưởng tượng và cảm nhận tốt, có xu hướng mạnh trong lĩnh vực nghệ thuật. Họ thích làm việc nhóm, thích cởi lòng để lắng nghe và tiếp thu ý kiến góp ý.

Đồng hoá (Assimilating)

Phong cách học tập đồng hoá thể hiện qua việc người học lựa chọn cách thức tiếp cận mang tính chính xác và logic. Ý tưởng và khái niệm quan trọng hơn các yếu tố khác. Người học theo phong cách này yêu cầu sự lý giải hợp lý hơn là các giải pháp ứng dụng. Họ có ưu thế trong khả năng thấu hiểu thông tin và sắp xếp thông tin một cách khoa học, hợp lý.

Người học theo phong cách đồng hoá ít thể hiện quan tâm đến con người hơn là đến các ý tưởng và khái niệm. Họ bị thu hút bởi các lý thuyết hơn là các nội dung ứng dụng cụ thể.

Phong cách học tập này phù hợp với các công việc nghiên cứu và xây dựng hệ thống thông tin cho tổ chức. Trong các tình huống học tập, người theo phong cách này thích đọc, thuyết giảng, tìm hiểu, phân tích mô hình và suy nghĩ sâu về vấn đề.

Hội tụ (Converging)

Người học theo phong cách hội tụ có khả năng giải quyết vấn đề và thường sử dụng kiến thức thu được để giải quyết các vấn đề thực tế. Họ ưa thích những nội dung mang tính kỹ thuật và ít quan tâm đến yếu tố con người cũng như các vấn đề cảm tính.

Người học theo phong cách này là những người giỏi tìm ra những góc độ thực tế của vấn đề hoặc khả năng áp dụng vào thực tế từ lý thuyết. Họ có thể giải quyết vấn đề và ra quyết định bằng cách tìm kiếm câu trả lời cho các câu hỏi được đặt ra.

Phong cách hội tụ liên quan đến những nghề nghiệp về công nghệ, kỹ thuật. Người học ưa thích phong cách này yêu thích được trải nghiệm thực tế, tìm tòi những vấn đề mới, thích sự mô phỏng và thực hành.

Thích nghi (Accomodating)

Phong cách học tập thích nghi được dựa trên trực giác, linh cảm nhiều hơn tính logic. Người học theo phong cách này thường sử dụng các phân tích của người khác để tiếp cận thực tế và trải nghiệm của bản thân. Họ bị thu hút bởi các thử thách mới và trải nghiệm mới và giỏi trong việc lên kế hoạch, dự án.

Người học theo phong cách này thường sử dụng bản năng hơn là các thông tin logic để phân tích, tìm hiểu vấn đề. Họ có xu hướng sử dụng thông tin do người khác xử lý để áp dụng cho nội dung học tập có liên quan. Phong cách học tập này thường phổ biến nhất trong số người học.

Ứng dụng các phong cách học tập trong giáo dục học

Giảng viên có thể sử dụng cả quy trình học tập 4 bước và các phong cách học tập do Kolb giới thiệu để định hướng cho người học cũng như phát triển thêm nhiều cơ hội học tập phù hợp.

Các nhà giáo dục có thể tham khảo trong quá trình thiết kê và triển khai các hoạt động giáo dục – đào tạo phù hợp với người học có các phong cách khác nhau để đem lại hiệu quả cao nhất.

Thêm vào đó, hệ thống học liệu và các hoạt động học tập cũng nên được phát triển phù hợp với các giai đoạn trong quy trình học tập để giúp người học tiếp thu, xử lý thông tin và đạt được kết quả mong muốn.

 

Trung Nguyễn – Phòng ĐBCL.  

 

 

CÁC BÀI VIẾT CÙNG CHUYÊN MỤC