Suy luận có lí

Lượt xem: 180

Ngày đăng: 03/04/2017

 

Tôn Quang Minh

Để thực hiện các hoạt động trong khoa học hay trong các hoạt động ứng biến hàng ngày, người ta thường phải sử dụng đến 2 loại suy luận: Suy luận chứng minh và Suy luận có lý. Suy luận chứng minh rất quan trọng, tuy vậy, tự bản thân Suy luận chứng minh không có khả năng cung cấp những hiểu biết mới về thế giới, không có khả năng tạo nên những hình ảnh mới về hiện tượng, về sự vật. Mọi cái mới mà chúng ta quan sát được, nắm bắt được, dự đoán được đều có liên hệ với Suy luận có lý.

Trong Suy luận có lý người ta lại phân thành 2 loại: Suy luận có lý hoàn toàn (CLHT), hay quy nạp hoàn toàn và Suy luận có lý không hoàn toàn (CLKHT); tương ứng là loại suy luận trong đó kết luận khái quát được rút ra trên cơ sở nghiên cứu tất cả các trường hợp cá biệt của đối tượng và loại suy luận khi kết luận được rút ra trên cơ sở nghiên cứu không đầy đủ các trường hợp riêng của đối tượng.

Cũng như suy luận chứng minh, suy luận CLHT là suy luận đáng tin cậy, khó bị phủ định. Để có thể Suy luận CLHT người ta cần có đủ tất cả các luận cứ, luận điểm đã được công nhận, đã được kiểm chứng. Tuy vậy vì đa số các mệnh đề toán học, chi tiết của cuộc sống, đều bao gồm vô số các trường hợp riêng sinh động và không phải lúc nào cũng nắm bắt được nên việc áp dụng suy luận CLHT nói chung bị giới hạn một cách đáng kể. Trong rất nhiều trường hợp người ta không thể sử dụng suy luận CLHT. Với suy luận CLKHT thì khác, mặc dầu kết luận của nó có thể đúng có thể sai nhưng vì khả năng thực thi trực diện, đa chều nên nó tạo nên một mặt bằng chung cho nhận thức, có ý nghĩa to lớn trong cuộc sống và trong việc dự đoán tìm ra tri thức mới.

Thử lấy một vài ví dụ trong toán học và trong đời sống thường nhật để xem xét ý nghĩa đó của suy luận CLKHT.

Ví dụ 1. Với các chú ý:

1= 12;

1+3= 22;

1+3+5= 32.

Kết luận: 1+3+5+…+ (2n-1)=n2.

      Đây là một kết luận của suy luận CLKHT và là một kết luận đúng.

     Ví dụ 2.

     60% GV dạy toán cho rằng chương trình toán quá nặng với sinh viên đại học.

     66% SV các trường đại học cho rằng chương trình học toán quá nặng

     90% SV đại học ra trường cho rằng toán giúp ích rất ít trong công việc.

Tính đa chiều của suy luận CLKHT thể hiện trong ví dụ này là ở chỗ người ta có thể đưa ra những kết luận về nhiều vấn đề khác nhau: về cách dạy toán, cách học toán, về số tín chỉ dành môn toán trong trường Đại học. Các kết luận này đều có thể còn tranh cãi nhưng rõ ràng nó rất có lý.

 

CÁC BÀI VIẾT CÙNG CHUYÊN MỤC