Đặc điểm của giáo dục Đại học trong thế kỷ 21 - Xu hướng phát triển của đảm bảo chất lượng và kiểm định chất lượng

Lượt xem: 62

Ngày đăng: 17/10/2018

Hiện trạng – Thách thức – hướng điều chỉnh của thế kỷ 21 
Chúng ta đang sống trong một thế giới khủng hoảng, một xã hội tri thức, một kỷ nguyên mà trong đó thời gian gần như đồng nghĩa với sự biến động (time is fluid), không có gì tồn tại lâu dài, mọi việc thay đổi liên tục và không ổn định. 
Xã hội ngày nay mang 2 đặc điểm lớn là tính đa dạng và tính hỗn tạp, thể hiện qua rất nhiều cuộc khủng hoảng tại các quốc gia, khu vực; các vấn đề môi trường; các vấn đề phát sinh trong quá trình toàn cầu hóa và khủng hoảng chính trị (nhất là về nền dân chủ). Những khủng hoảng này làm trầm trọng thêm sự mất công bằng về xã hội và kinh tế, làm dấy lên tính cấp thiết của một hệ thống điều hành quy mô toàn cầu theo mô thức mới (giảm khả năng quyết định hiện đang phụ thuộc nhiều vào một số cá nhân và quốc gia quyền lực) và làm giảm niềm tin người dân vào hệ thống chính trị hiện hành (hiện đang có nhiều chính sách được ban hành khá không thực tiễn và khó áp dụng rộng rãi). 
Khi những hình thức kiến thức mới và tính tượng trưng thẩm thấu qua mọi khía cạnh xã hội hoặc khi cấu trúc của xã hội cũng như quá trình tái cấu trúc xã hội bị chi phối quá nhiều bởi các hoạt động có tính tri thức (độc lập) đến nỗi những hoạt động sáng tạo, phân tích tượng trưng và các hệ thống chuyên môn thì trở nên quan trọng hơn các yếu tố sản xuất. Thách thức lớn nhất mà xã hội tri thức phải đối diện là sự thông minh có chọn lọc: Một xã hội vượt trội (intelligence) về tổng thể thì quan trọng hơn một xã hội được cấu thành bởi nhiều cá nhân vượt trội.  
Thách thức đối với giáo dục đại học 
Ở tầm vĩ mô, giáo dục đại học đang đối diện với hai thách thức lớn. Đầu tiên là sự ảnh hưởng của những tổ chức, những cường quốc trong việc đưa ra những định hướng phát triển cũng như khuyến khích việc kết nối giáo dục và công nhận chương trình lẫn nhau giữa các trường đại học. Ví dụ: Liên Minh Châu Âu đã nhấn mạnh hệ thống giáo dục đại học phải thay đổi và thích ứng với nhu cầu kinh tế - xã hội, cụ thể việc áp dụng công nghệ thông tin và truyền thông phải là một phần trong quá trình dạy và học. Thách thức thứ hai là là khuyến khích hợp tác quốc tế giữa các trường đại học trong việc chia sẻ kiến thức toàn cầu cũng như hợp tác về cơ sở vật chất – trang bị. Do đó, các quốc gia phải chi thêm ngân sách cho các hoạt động này.  
Ở quy mô cơ sở giáo dục, các trường hiện đang đối mặt với rất nhiều thách thức, điển hình như: 
- Sự thay đổi liên quan đến sáng tạo. Những cách tiếp cận phi truyền thống đang xảy ra và những hình thức kiến thức phi khoa học (non-scientific forms of knowledge) cần được tìm hiểu. 
- Sự thay đổi về mô hình giáo dục. Những cách tiếp cận mới về dạy và học đang khuyến khích sự phát triển của tư duy sáng tạo và tư duy phản biện. Những năng lực chung cũng như chuẩn đầu ra của giáo dục đại học cần được xác định lại. Trong xã hội tri thức, giáo dục đại học cần đào tạo ra những đầu đạn thông minh có khả năng thay đổi quỹ đạo theo mục tiêu động thay cho việc chỉ hướng đến 1 mục tiêu cố định như trước đây. Việc dạy và học cần được chủ động hơn, áp dụng thực tiễn cuộc sống nhiều hơn và thiết kế những sinh viên thấu hiểu được năng lực đặc biệt của bản thân. 
- Sự thay đổi nhắm đến việc ứng dụng tiến bộ công nghệ thông tin – truyền thông trong sáng tạo và truyền bá kiến thức (Digital wisdom – Prensky, 2009). 
- Sự thay đổi về trách nhiệm xã hội và sự chuyển giao kiến thức, trong đó có liên quan đến các cơ sở giáo dục đại học. Ví dụ: Các nghiên cứu phải phục vụ nhu cầu xã hội, các sản phẩm phải phù hợp với địa phương v.v. 


Xu hướng về giáo dục trong thế kỷ 21 
Sơ khai, giáo dục có mục đích tạo ra những công dân toàn diện. Sau đó, mục đích được thay đổi thành đảm bảo cho công dân được đào tạo bài bản và gần đây có xu hướng thay đổi để khơi dậy tinh thần phản biện (critical spirit). 
Ngày nay, sự sáng tạo là yếu tố tiên quyết: Là khả năng học và tính sẵn sàng chấp nhận những cái mới và khả năng cải biến những kiến thức được học và sự sẵn sàng đào tạo lại khi nhận thấy bản thân có những thiếu sót. Trong xã hội tri thức, giáo dục là khả năng sáng tạo trong một môi trường không ổn định, là khả năng quản lý các mâu thuẫn về nhận thức. Do đó, trong thế giới hiện đại và biến động, chúng ta nên tránh khỏi nền giáo dục rời rạc và hướng đến việc học tập suốt đời. 
Nền giáo dục phát triển bền vững (Education for Sustainable Development – ESD) đang trở nên một hình mẫu cho việc đánh giá và định hướng nền giáo dục hiện tại. ESD bao gồm những hình thức kiến thức mới và cách thức học làm người theo một cách khác biệt. Nền giáo dục này nhắm đến việc đóng góp cho phát triển bền vững của cá nhân, cụ thể là sự tổng hòa về tinh thần, trái tim, khối óc và đôi tay. Hội nghị thượng đỉnh về phát triển bền vững năm 2002 diễn ra tại Johannesburg đã xác định 4 trụ cột của giáo dục bao gồm: Học để biết – Học để làm – Học để chung sống – Học để tồn tại.
Đối với giáo dục đại học, các xu hướng chính bao gồm: 
- Giáo dục đại học đã chuyển từ mô hình tinh hoa sang đại chúng: Nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của nguồn dân số tăng nhanh trong những năm gần đây. Điều này dẫn đến sự tăng trưởng về số lượng và sự đa dạng của các cơ sở giáo dục đại học trên toàn thế giới. 
- Sự tăng trưởng về hợp tác quốc tế trong giáo dục đại học: Các quốc gia đang khuyến khích các trường trong nước hợp tác với các trường nước ngoài trong việc trao đổi học thuật, thu hút sinh viên nước ngoài v.v. 
- Về tài chính: Sự cắt giảm ngân sách dành cho giáo dục, trong đó có giáo dục đại học đang diễn ra tại nhiều quốc gia. 
- Sự hợp tác đa chiều đối với giáo dục đại học: Ngày càng nhiều các bên liên quan phối hợp với các cơ sở giáo dục đại học trong quá trình đào tạo nhằm mục đích tuyển dụng người lao động phù hợp, giảm thiểu thời gian đào tạo lại. 
- Sự tiến bộ về công nghệ trong giáo dục: Ngày càng có nhiều công nghệ được ứng dụng trong giáo dục, hiện tập trung hỗ trợ học online và học từ xa. 
Đảm bảo chất lượng, kiểm định chất lượng là hướng phát triển tất yếu
Phân tích các thách thức và xu hướng phát triển của giáo dục đại học, ta có thể thấy rõ quy mô của giáo dục đại học sẽ tăng trưởng không ngừng. Vấn đề đảm bảo chất lượng (DBCL) và kiểm định chất lượng (KDCL) tuy mới được đặt ra vào những năm cuối thế kỷ 20 nhưng đã nhanh chóng trở thành những nội dung quan trọng trong hầu hết các khu vực và quốc gia trên toàn thế giới. Việc chọn một cơ sở giáo dục đại học trở thành sự lựa chọn của cuộc đời, do đó cần phải có những thông tin đánh giá chính xác, khách quan từ những tổ chức có uy tín. 
Bên cạnh đó, tính toàn cầu hóa trong giáo dục đại học thể hiện ở chỗ tăng trưởng quy mô sinh viên nước ngoài. Với nhu cầu lớn về du học, việc chọn cơ sở giáo dục đại học nước ngoài (vốn mang tính rủi ro rất cao nếu có lựa chọn sai) cũng cần phải có những thông tin đánh giá không đến từ sự tự giới thiệu của các cơ sở giáo dục.
Các chính phủ và nhiều cơ quan quản lý nhà nước cũng cần có những thông tin đánh giá chính xác để quyết định những vấn đề chính sách, ngân sách đối với hệ thống giáo dục đại học. 
Do đó, hàng loạt khu vực và quốc gia đã ban hành các khung trình độ chuyên môn (QF), thành lập các tổ chức đánh giá với nhiều hình thức – cách thức hoạt động, ban hành nhiều bộ tiêu chuẩn DBCL, KDCL cấp cơ sở và cấp chương trình đào tạo. 


Trung Nguyễn – Phòng ĐBCL. 
 

 

CÁC BÀI VIẾT CÙNG CHUYÊN MỤC